LỜI TỰA
Thuyết nhơn-nghĩa, giảng đạo-đức, là một giáo-lý bao la quảng-đại của các Ðấng Thánh trước Hiền xưa lưu truyền.
Người trí suyển tài sơ như
tôi, không thể nào sưu-tầm cho tận tường các triết-lý.
Ðã nói là rừng Nho biển
Thánh thì dầu cho người đi đến non cao rừng thẳm, cũng chưa ắt am hiểu hết danh
mộc, có ra ngoài biển rộng sông sâu cũng chưa dễ lảu thông các loài thủy tộc.
Huống chi tinh-thần đạo-đức, trong Tam-giáo Phật, Tiên, Thánh truyền dạy, có lắm
điều huyền-bí nhiệm-mầu thì chưa một ai tự hào là thông-tri lịch lãm.
Trải qua trên ba mươi năm
trong cửa Ðạo CAO-ÐÀI, tôi cố tâm học hỏi Ðạo-lý, sự hiểu biết được bao nhiêu
những điều thường-thức của các bậc Chức-Sắc đàn anh chỉ giáo.
Ngày nay lập thành một quyển
tựa đề "GIẢNG-ÐẠO CHƠN-NGÔN" cốt-yếu để làm phương-châm dìu bước cho
chư Ðạo-hữu mới nhập-môn được biết sơ qua trên con đường tu tâm dưỡng tánh cho
trở nên người hạnh-đức thuần-lương, ấy là giúp ích cho anh em đồng đạo.
Những việc thường-thức hằng
ngày, cũng chưa chắc ai dám tự-phụ rằng mình đã thông thuộc mọi điều đầy-đủ. Huống
chi Ðạo-lý diệu-diệu cao thâm, phải trải qua nhiều năm khổ nhọc, mới mong vạch
đặng chút ít ánh sáng vào đường siêu-việt đó.
Vậy mong nhờ quí vị Ðại-Huynh,
xem chỗ nào còn sai suyển xin vui lòng chỉ giáo, đặng bổ cứu vào chỗ khuyết điểm
cho được hoàn bị hơn.
Tôi rất mong và sẵn chờ tiếp
nhận sự chỉ giáo ấy.
Mong thay
Ngày 16 tháng Giêng Ðinh-Dậu (15-2-1957)
Giáo-Sư THÁI-ÐẾN-THANH
HUỲNH-VĂN-ÐẾN
BÀI SỐ 1
TẠI SAO PHẢI CÓ ÐẠO CAO-ÐÀI?
Bởi thời kỳ Hạ-Ngươn cùng tận, Tam-Giáo: Nho,
Thích, Ðạo đã thất chơn-truyền khiến cho nhơn-tâm biến đổi bỏ phép công-bình chiến-tranh loạn-lạc, con người gian-tham xảo-trá giành-giựt quyền-lợi, trộm cướp giết hại lẫn nhau,
thành ra một trường náo-nhiệt tồi phong bại tục nghiêng đổ luân-lý cang thường, ấy là đời mạt kiếp.
Vì cớ cho nên Ðức CHÍ-TÔN
mới hội chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tại Ngọc-Hư-Cung, nhứt định hoằng-khai Ðại-Ðạo
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, cốt-yếu chấn-hưng Tam-giáo, thức tỉnh chúng sanh giữ Ðạo
cang-thường, tu tâm sửa tánh, hồi đầu hướng thiện tự hối ăn-năn cải dữ làm
lành, lập lại đời tân-dân minh-đức, cho thuận theo lẽ tuần huờn của Tạo-Hóa.
Ðức CHÍ-TÔN dùng huyền-diệu
cơ-bút giáng trần giáo đạo, tá danh là CAO-ÐÀI TIÊN-ÔNG ÐẠI-BỒ-TÁT MA-HA-TÁT,
hiệp qui Tam-giáo thống nhứt Ngũ-chi, gọi là cơ-quan cứu thế chủ nghĩa giáo dân
qui thiện, thật hành Bác-ái Công-bình, đề xướng cho nhơn-loại hòa-bình, đại-đồng
thế-giới.
Tóm lại: Do Thiên-thơ tiền
định đến thời kỳ chuyển-giáo cho nên phải có Ðạo CAO-ÐÀI.
BÀI THI CỦA ÐỨC CHÍ-TÔN
(Giáng cơ dạy buổi ban sơ)
Tường quang nhứt khí chiếu
minh đông,
Tam-giáo qui nguyên giữ cộng
đồng.
Phật-Pháp khuyến nhơn quy
mỹ-tục,
Nho-Tông phục thế hưởng
thuần-phong.
Diệu-huyền Chơn Ðạo tu
tông hướng,
Mê hoặc tà mưu khả tự
phòng.
Thế thượng dục tri Thiên-Sứ
đáo,
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ lập kỳ công.
BÀI SỐ 2
GIÁO-LÝ ÐẠO CAO-ÐÀI
Do theo Chơn-Luật của Ðức
CHÍ-TÔN là thương-yêu, còn Chơn-Pháp là công-bình. Từ năm Bính-Dần 1926, Ðức
CHÍ-TÔN giáng cơ khai Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, trước hết cũng dạy thương-yêu.
Thầy dạy rằng: Ngày nào
các con thật hành chủ-nghĩa thương-yêu cho ra chơn tướng, ấy là ngày của
nhơn-sanh thoát khổ. Lại có một bài Thánh-Ngôn dạy rằng: "Thầy là cha cả của
sự thương-yêu, do bởi sự thương-yêu mới tạo thành Càn-Khôn Thế-Giới và sanh dưỡng
các con.”
Bởi sự thương yêu mà vạn-loại
hòa bình, Càn-Khôn an tịnh, đặng an-tịnh mới không thù nghịch lẫn nhau,không
thù nghịch lẫn nhau mới không tàn hại nhau, không tàn hại nhau mới giữ bền cơ
sanh hóa" (ấy là chơn luật thương-yêu). Còn Chơn-Pháp công-bình, thì Thầy
có dạy rằng: "Ðạo của Thầy là công-lý, ngày nào các con còn trông thấy một
điều bất bình ở thế nầy, thì Ðạo chưa thành tựu".
Nền Ðạo CAO-ÐÀI là
Nho-Tông chuyển thế, trước cửa Tòa-Thánh có biểu-dương hai chữ NHƠN-NGHĨA thật
to, thì thấy chữ NHƠN là chủ sự thương-yêu. Có câu: "Trắc ẩn chi tâm ái vật
chi lý, bất sát bất hại thể háo sanh chi đại-đức vi nhơn". Nghĩa là: tỏ
lòng thương người mến vật chẳng nỡ sát hại sanh mạng, noi theo lòng từ-bi của Ðức
Chí-Tôn mới gọi là Nhơn.
Chữ NGHĨA là giữ phép
công-bình, gìn lòng chánh-trực không một mảy gian tham, có câu: "Kỷ sở bất
dục, vật thi ư nhân" những việc ta chẳng muốn ai làm cho ta chịu đau khổ
thảm sầu thì ta không nên đem việc ấy mà làm cho người khác mới là phải Nghĩa.
Con người biết giữ phép
công-bình mới tỏ ra sự thương-yêu, mà thương-yêu cho chánh lý, thì trên thuận với
lòng Trời dưới cộng-hòa cùng đồng loại quốc-dân, ấy là cơ đạt Ðạo "Hòa giã
thiên hạ chi đạt Ðạo dã".
Còn Ðời mà thật hành được
sự thương-yêu công-bình hòa-thuận, thì cơ Ðời trở nên thái-bình an-cư lạc-nghiệp.
Khổng-Giáo ái nhân như ái kỷ, thương-yêu tất cả mọi người cũng như thương thân
của mình vậy.
Phật-Giáo thì lấy câu Từ-bi
Bác-ái làm trọng. Tiên-Giáo Ðức Thái-Thượng dạy: "Căn cô truất quả kỉnh
lão hòa ấu côn trùng thảo-mộc du bất khả thương". Gia-Tô Giáo thì: "Xả
kỷ ái nhân". Xem như thế thì các nhà Tôn-giáo cũng vì chủ-nghĩa thương đời,
nên mới phát-minh ra các vấn-đề đạo-đức để giải khổ cho đời.
Ngày nào nhơn-sanh hồi tâm
hướng thiện, thật-hành chủ nghĩa thương-yêu, biết giữ phép công-bình, thì
nhơn-loại mới đặng chung hưởng mọi điều hạnh-phúc.
BÀI SỐ 3
CƠ TUẦN-HUỜN CỦA TẠO-HÓA
Kỳ Hạ-nguơn nầy là buổi hiệp
Tam-giáo làm một hầu đem về căn-bản cho thuận theo lẽ tuần-huờn.
Ðức Ngọc-Hoàng Thượng-Ðế,
dùng huyền-diệu Tiên-gia giáng cơ giáo Đạo, thế thì nhơn-loại hữu duyên hữu phước
mới sanh nhầm kỳ khai Ðạo thứ ba, muôn năm ngàn kiếp mới có một kỳ như vậy nếu
chẳng thành tâm tu-niệm thì rất uổng cho kiếp sanh.
Tu-niệm đặng làm chi?
Nhập-môn vào Ðạo để làm gì?
Nhập-môn vào Ðạo đặng làm lành lánh dữ, dưỡng tánh tu tâm lập công bồi đức cứu độ nhơn-sanh, chớ không phải vào Ðạo rồi cậy lấy
phần đông, kết phe lập đảng ỷ chúng hiếp cô, kẻ vào Ðạo mà chỉ mưu việc quấy như vậy, là kẻ lợi dụng danh Ðạo mà làm cho rối loạn chơn-truyền, tức là kẻ phản nghịch với chánh-lý của Ðạo vậy.
Những người thật tâm nhập-môn tùng
giáo, dầu đông bao nhiêu cũng giữ một phương-diện làm phải làm lành, chẳng làm
điều gì trái với luật-pháp chơn-truyền của Ðạo.
Nay là buổi tuần-huờn Trời khai Ðại-Ðạo Tam-Kỳ
Phổ-Ðộ chấn hưng Tam-giáo thức tỉnh nhơn sanh,
giữ Ðạo cang thường tu tâm dưỡng tánh, hồi đầu
hướng thiện, tự hối ăn năn, cải dữ theo lành tân-dân minh-đức, thì chúng ta rõ biết
cuộc tuần-huờn Tạo-hóa xoay vần công-bình Thiên-Ðạo. Mỗi phương đều có một Chơn-Ðạo, đặng cho đời noi gương chánh giáo, dìu-dắt lẫn
nhau, lấy phép công-bình mà đối đãi với nhau, cho được ôn-hòa mới ra vẻ làm người hiền lương chí thiện, ấy là Ðạo khai cho nhơn-loại trở nên lành.
Trên đây đã nói: nay là buổi
tuần-huờn thế nào? Xin lược giải ra chơn-lý như sau đây:
Tuần-huờn là: "Thiên
hữu tứ thời Xuân tại thủ". Trời có bốn mùa chỉ mùa Xuân là ở đầu, trong
mùa xuân mát mẻ hơn các mùa, cây trái đều tươi tốt, người cũng lấy Xuân mà thêm
tuổi. Mùa Xuân có ba tháng là tháng Giêng, tháng hai, tháng ba trong ba tháng
có 90 ngày, nên gọi là thiều quang chín chục.
Cuối mùa Xuân sang Hạ,
Thu, Ðông, rồi trở lại Xuân ấy là châu nhi phục thỉ. Ví như một năm 12 tháng
thì khởi đầu tại tháng Giêng, xoay vần tới tháng Chạp cũng trở lại tháng Giêng.
Mỗi tháng 30 ngày khởi đầu ngày mồng một ấy là cơ tuần-huờn của Tạo-hóa. Nói rộng
hơn nữa là luận thuyết Tam-Nguơn: Thượng-Nguơn, Trung-Nguơn, Hạ-Nguơn.
Thượng-Nguơn là nguơn Tạo-hóa,
tức là nguơn Thánh-Ðức, ấy là nguơn vô tội.
Trung-Nguơn là nguơn Tấn-hóa,
tức là nguơn tranh đấu, ấy là nguơn tự diệt.
Hạ-Nguơn là nguơn Bảo-tồn,
tức là nguơn Tái-tạo, ấy là nguơn qui cổ.
Trong một năm cũng có
Tam-nguơn: Thượng-nguơn là rằm tháng giêng, Trung-nguơn là rằm tháng bảy, Hạ-nguơn
là rằm tháng mười, rồi thì cũng trở lại rằm tháng giêng, Thiên-Ðịa tuần huờn
châu nhi phục thỉ.
Còn cuộc tuần huờn của
nhơn-sanh là: "Nhơn chi sơ tánh bổn thiện". Con người mới sanh ra ban
đầu, thì có tánh trọn lành gọi là: "Thiên mạng chi vị tánh". Trời đã
ban cho mỗi người một cái tánh lành ai ai đều có, mà tại con người chẳng hay
trau-giồi, để cho nó nhiễm lấy hồng trần thế sự xu-hướng theo vật-chất mà quên
mất lương-tâm, trở nên người hung ác bạo tàn.
Cha mẹ sanh con từ nhỏ cho
đến khôn lớn, đều dạy làm phải làm lành, chẳng có cha mẹ nào dạy con làm các điều
tội-lỗi. Thánh Hiền xưa cũng lo cho buổi sau nầy, phong hóa suy tồi nhơn-luân
điên đảo, nên mới soạn Thi-Thơ Kinh-Ðiển để lưu truyền cho kẻ hậu lai, thì
Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên, không có bài sách nào mà Thánh Hiền dạy
con người gian tham trộm cướp, mà hiện nay thấy rõ con người ở đời, làm những điều
tội lỗi nhiều hơn là làm phải làm lành, ấy là nhơn tâm bất cổ, lòng người chẳng
giống xưa, gọi là mất nguồn cội.
Thời kỳ Hạ-nguơn nầy Ðức
CHÍ-TÔN hoằng khai Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, cốt yếu là giáo dân qui thiện phục
chánh nhơn tâm, thức tỉnh cho người đời biết giác ngộ, lánh dữ làm lành tu nhơn
tích đức, phản bổn huờn nguyên mới thuận theo cơ tuần-huờn tạo-hóa.
Làm người biết noi theo đường
Thiên-lý, thì chỉ có phương tu là hay nhứt.
BÀI SỐ 4
ÐỀ TÀI CHỮ TU
Tu là trau-giồi đức-hạnh,
sửa bổn tâm chơn tánh, cải ác tùng lương, khử tà qui chánh. Nghĩa là: đổi dữ về
lành bỏ các điều vạy mà làm theo điều ngay. Con người đồng thọ nhứt điểm
Linh-quang của Tạo-hóa ban cho một cái tánh Thiêng-liêng, tánh ấy vẫn biết khôn
ngoan trí hóa đạo-đức tinh-thần, nếu không lo trau-giồi để cho nó nhiễm lấy vật-chất
hữu-hình lợi-danh phú-quí, sắc-dục tiền-tài, làm cho điểm linh-quang mờ ám, mà
sanh ra các điều tội lỗi.
Có câu: "Ngọc bất
trác bất thành khí". Ngọc chẳng giồi chẳng nên giống tốt. Ngọc ngà là vật
quí báu của đời, nếu không biết cách trau-giồi, thành ra một vật vô giá-trị
cũng như con người có một tánh lành, mà chẳng hay trọng dưỡng để cho nó trở nên
hung ác thì gọi là mất nguồn cội. Cho nên bậc nào cũng lo tu-hành là điều cần
nhứt, có câu: Tự Thiên-Tử chí ư thứ dân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bổn. Nghĩa
là: từ ngôi Thiên-Tử xuống tới hàng thứ dân, chỉ dùng sự tu thân mà làm căn bản.
Xem trong thơ truyện các bậc
Ðế-Vương cũng xuất thân lo việc tu-hành. Vua Hiên-Viên Huỳnh-Ðế, còn phế
giang-san quì gối ba phen yết bái Ðức Quảng-Thành-Tử mà học Ðạo Tiên-Thiên. Lại
nữa: Ðức Thích-Ca là con một của vua Tịnh-Phạn-Vương, Ngài là Ðông-Cung Thái-Tử,
sao chẳng ở nối ngôi Vua mà hưởng nhờ vinh-huê phú-quí, lại xuất thân hành đạo
chịu thiên tân vạn khổ, ly gia cắt ái giáo hóa chúng sanh thuyết pháp độ đời,
thức tỉnh nhơn tâm, cho đặng thoát khỏi sông mê biển khổ. Do nơi công-nghiệp ấy
Ngài mới đắc đạo là Phật-Tổ, thiên hạ phụng thờ, muôn người sùng bái, có phải
là phương tu rất nên quí hóa chăng?
Ðến như các bậc Ðế-Vương
mà còn mộ Ðạo tu-hành thay huống chi chúng ta nỡ nào mê theo mồi phú-quí bả
vinh-hoa vẻ cân-đai mùi chung-đỉnh là điều giả cuộc, mà đành quên hết đạo-đức
tinh-thần hay sao? Có câu: Ðức giã bổn giã, tài giã mạt giã.
Ðạo-đức là căn bản, còn
tài là ngọn ngành, mà chúng ta lẽ nào bỏ gốc tầm ngọn, lại có câu: "Ðức thắng
tài vi quân-tử". Sao lại không lo lập đức đặng làm người quân-tử mà lại
tranh tài?
Phương tu rất có ích cho
nhơn-quần xã-hội. Bởi có câu: Tu kỷ dĩ an bá tánh, một người tu mà trong bá
tánh thảy đều an cư, ví như một người kia bình nhựt hay trộm cướp gian tham, mà
nay biết ăn-năn hối ngộ lo việc tu-hành thì trong bá tánh đặng hưởng mọi điều
yên tịnh, có phải là phương tu hữu ích chăng?
Nếu trong xã-hội từ lớn
chí nhỏ đều lo việc tu-hành, giữ theo luật Ðạo làm lành lánh dữ, thương yêu thuận-hòa
cùng nhau thì xã-hội trở nên thái-bình, đời mới đặng thuần-phong mỹ tục. Còn chẳng
noi theo đường đạo-đức, để tranh đua mạnh hiếp yếu trí lấn ngu, giàu hiếp
nghèo, khôn lấn dại, sanh ra các điều ác cảm không kể luân-lý cang-thường thì
chi cho khỏi điều tồi phong bại tục.
Có câu: "Bang hữu đạo
tắc trí bang vô đạo tắc nguy". Nước nhà có đạo-đức thì dân trở nên hiền
lành, được mở mang trí hóa cao thượng.
Còn nước không có Ðạo, thì
dân tranh cạnh thù nghịch lẫn nhau, tìm mưu sâu kế độc mà giết hại lẫn nhau chẳng
thương yêu cốt nhục đồng bào, thì kết cuộc nhơn-sanh phải đi tới con đường tận
diệt....
Tóm lại phương châm
tu-hành đạo-đức là một cơ-quan bảo tồn nhân-loại.
BÀI SỐ 5
GIẢI-THÍCH CHỮ HÒA
CHỮ HÒA LÀ THUẬN HÒA
Trong Kinh Lễ có câu:
"Lễ dĩ hòa vi quí". Lễ nghi phải lấy chữ hòa làm quí, vì ngoài mặt có
hòa nhã, thì trong tâm mới có thành kỉnh, lễ nghi mới ra vẻ trang nghiêm long
trọng. Nếu hành lễ mà không hòa, thì dầu lễ nghi to lớn Thánh Thần cũng không
chứng hưởng. Thầy Mạnh-Tử nói: Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhơn
hòa. Nghĩa là: Thời Trời chẳng bằng đất lợi, đất lợi cũng không bằng người hòa.
Người có hòa mới cảm tình liên-lạc kết dây đoàn thể với nhau, tương thân tương
ái đồng tâm hiệp lực cùng nhau thì mới thật hành mọi điều kết-quả.
Ðời Tam-Quốc ông Lưu
Tiên-Chúa, duy lấy hai chữ nhơn hòa mà thắng cả thiên thời địa lợi, làm cho Tào
Mạnh-Ðức lắm trận kinh hồn, Ngô Tôn-Quyền nhiều phen mất vía. Xem như thế đủ biết
chữ hòa mạnh-mẽ là dường nào.
Nhớ lại tích xưa 3 vị anh
hùng LƯU, QUANG, TRƯƠNG hiệp đồng nhứt tâm, dụ tất có một chữ hòa mà lập nên
giang san Hớn-Thất.
SÀI, TRIỆU, TRỊNH cũng
dùng chữ hòa mà dựng nên cơ nghiệp Tống-Triều. Quốc-dân Việt-Nam trên 25 triệu
đồng bào, chung cả tín-đồ Ðạo Cao-Ðài, nêu biết hiệp lực đồng tâm, thương yêu
liên-lạc thuận-hòa cùng nhau mới có thể phục hồi an-ninh trật-tự, chấn hưng nền
luân-lý, (mối cang-thường) trở nên tận-thiện tận-mỹ.
Trong Kinh Thi có câu:
"Âm dương hòa võ trạch
giáng, phu phụ hòa gia đạo thành". Khí âm khí dương hiệp hòa thì mưa nhuần
rưới khắp, vợ chồng có hòa thì đạo nhà mới nên. Thiết tưởng như hai vợ chồng mà
biết thuận-hòa với nhau còn tạo thành gia-nghiệp được kinh dinh thay. Trái lại,
vợ chồng mà không hòa thì tự nhiên tình nghĩa phai lợt cách xa, gia-đình ắt phải
suy tồi hư hoại.
Còn trong xã-hội mà chẳng
hòa, thì biến thành xã-hội phân vân tranh đấu. Toàn cả thế-giới mà chẳng hòa
thì đời chiến-tranh loạn lạc, ấy là cơ tự-diệt lẫn nhau.
Nếu chẳng dùng phương-châm
đạo-đức nhơn nghĩa mà làm kế bảo an, thì nhơn loại vì cuộc chiến-tranh ắt phải
có ngày tuyệt chủng.
Trong Kinh Thơ có câu:
"Hiệp hòa vạn
bang". Phải hiệp hòa muôn nước. Dầu cho quốc-dân chủng-tộc nào, hay là sắc
da nào chẳng hạn cũng đồng con chung của Ðấng Tạo-Hóa, thì phải biết thương yêu
thuận hòa với nhau như anh em một nhà thì đời mới trở nên thái-bình an cư lạc
nghiệp.
Ðến như Trời-Ðất âm-dương,
cùng các bậc thượng-cổ Ðế-Vương còn phải lấy chữ hòa làm gốc. Huống chi anh em
chúng ta là người tu-hành đạo-đức, há chẳng noi theo chữ hòa hay sao? Có câu:
"Hòa giã thiên-hạ chi đạt đạo giã". Hòa là cơ đạt đạo trong thiên-hạ
vậy.
Trong thế-giới có hòa thì
mới đặng thái-bình thịnh vượng, nhà nước có hòa mới được tấn bộ văn-minh,
gia-đình có hòa mới được sum vầy vui-vẻ, cha con có hòa mới trọn câu phụ từ tử
hiếu, anh em có hòa mới biết thuận thảo thương yêu, vợ chồng có hòa mới nên cửa
nhà đồ-sộ, bậu bạn có hòa mới giữ tròn câu tín-nghĩa, đạo-đức có hòa mới được
hoàn-toàn.
Chữ hòa rất quí hóa thay!
Thánh-Giáo của Ðức Chí-Tôn
dạy:
Kỳ Phổ-Ðộ thứ ba nầy, Thầy
giáng trần khai Ðạo là đề xướng cho nhơn-loại hòa-bình đại-đồng thế-giới.
Ngày nào các con hiệp nhứt
tâm thật hành cho đặng chữ hòa thì Thầy sẽ giao chìa khóa cho các con mở cửa
Tam-Thập Lục-Thiên mà vào nơi Bạch-Ngọc-Kinh. Còn các con không thuận hòa cùng
nhau thì ngọn đèn thiêng-liêng chưa đủ rọi tỏ cho mấy chục triệu nhơn sanh. Thầy
lại dạy rằng: "Cái nhánh của các con là cái nhánh của chính mình Thầy làm
chủ, một điều Thầy vui hơn hết là muốn cho các con liên-lạc thuận hòa cùng nhau
hoài, chia vui sớt nhọc với nhau dìu-dắt nhau đem lên đường đạo-đức, hầu tránh
khỏi chốn trần ai, khốn đốn (giết hại lẫn nhau) ấy là các con hiến lễ cho Thầy
trân trọng. Nếu các con không thuận-hòa cùng nhau, tựa hồ chia phe phân phái
thù nghịch lẫn nhau, ấy là các con làm đại tội trước mặt Thầy".
Những lời của Ðức CHÍ-TÔN
đã dạy, anh em chúng ta ghi nhớ mà thật-hành cho tròn bổn phận là môn-đệ của
CHÍ-TÔN, kẻo lắm công-trình cực nhọc đem thân vào đường đạo-đức, mà chẳng tuân
theo Thánh-Giáo thì sau nầy không tránh khỏi luật Thiên-điều.
THI CHỮ HÒA
Thiên thời địa lợi bất như
hòa,
Tam-giáo chơn-truyền vốn một
cha.
Chia rẽ phân tâm thành bạc
nhược,
Hiệp hòa chung trí thắng can qua.
Thương yêu nhơn-loại như xương thịt,
Cảm mến đồng-bào thể ruột
rà.
Cả tiếng kêu ai là mẫn thế,
Nghiêng vai chung gánh Ðạo
nhà ta.
BÀI SỐ 6
GIẢI-THÍCH KINH LỄ
Lễ là khuôn viên trọng thể
của con người, con người sở dĩ linh hơn muôn vật, tưởng cũng nhờ có lễ nghĩa mà
đặng phần hơn. Nên có câu: Nhơn-sanh vạn vật tối linh, Lễ giả Thiên-Ðịa chi tự
dã. Nghĩa là người đời có tánh linh hơn muôn vật là nhờ biết Lễ, Lễ vốn là Trời
Ðất phân ra trật-tự khác nhau, cho vạn-vật có thứ tự phân-minh, nhưng cũng đồng
một thể, cũng do theo điều hòa mà tạo thành cơ sanh hóa. Có câu: Thiên cao địa
hạ vạn-vật tán thù, nhi lễ chế hành hĩ, Lưu nhi bất tức, hiệp đồng nhi hóa chi
nhạc hưng yên. Trời cao đất thấp muôn vật khác nhau, cho nên Thánh-Hiền mới định
ra Lễ Nghĩa, phân tôn-ti trật-tự. Trời Ðất và vạn-vật lưu hành, hội họp tánh-chất
cho điều hòa để gầy tạo thành cơ sanh hóa.
Căn nguyên của Lễ cao xa
như thế, cho nên mới có giá-trị tôn quý, Thánh Hiền đời trước lấy lễ làm căn bản,
để dạy người và trị thiên hạ. Có câu: Tiên Vương chế lễ nhạc giả, phi dĩ cực khẩu,
Phúc nhĩ mục chi dục giả, tương dĩ giáo dân binh hảo ố, nhi phản nhơn-đạo chi
chánh dã. Tiên Vương chế ra Lễ Nhạc, chẳng phải để làm cho cùng cực cái sở dục
của miệng, bụng, tai, mắt, nhưng để dạy dân giữ lòng hảo ố cho vừa phải mà sửa
lại cái nhơn-đạo cho chánh vậy.
Quy củ chữ Lễ là để chế sửa
phong-tục, nhơn quần xã-hội, Quan-Hôn Tang-Tế, triều-đình hương-đảng, cả thảy đều
dùng lễ mà làm cho tận thiện tận mỹ vậy.
Lễ là thuộc việc tế-tự có
thể trạng-thái tình cảm rất hậu, tế là do tâm thành kỉnh Trời, Phật, Tiên,
Thánh hay là Tổ-Tông.
Có câu: "Phù tế giả
phi vật tự ngoại, tự trung xuất sanh ư tâm dã". Trong việc cúng tế chẳng
phải tại lễ vật ở ngoài, chỉ tại lòng thành kỉnh mà sanh ra vậy.
Lễ là cốt để giữ sự chừng
mực cho sự hành-vi của con người. Ðức Khổng-Tử nói: "Ðạo-đức nhơn nghĩa
phi lễ bất thành, giáo hóa chánh tục phi lễ bất bị, phân tranh kiện tụng phi lễ
bất quyết, quân-thần thượng hạ phụ-tử huynh-đệ phi lễ bất định, hoạn học sự sư
phi lễ bất thân, ban triều trị quân tỵ quan hành pháp phi lễ oai-nghiêm bất
thành. Ðảo từ tế-tự cung cấp Thánh-Thần, phi lễ bất thành bất trang, thị dĩ
quân-tử cung kỉnh tôn tiết thái nhượng dĩ minh lễ". Lời của Ðức Khổng-Tử dạy,
những người đã làm đạo-đức nhơn-nghĩa, mà thiếu lễ cũng chẳng nên, dạy bảo sửa
đổi phong-tục mà thiếu lễ thì cũng chẳng đủ. Xử việc phân tranh kiện tụng mà
thiếu lễ thì không quyết đoán, Vua tôi trên dưới cha con anh em, mà không có lễ
thì chẳng định, học làm quan thờ Thầy mà không có lễ thì chẳng thân mật, sắp đặt
thứ vị trong triều, cai-trị quân lính, đi làm quan thi-hành pháp lịnh, mà không
có lễ thì chẳng oai nghiêm, cầu khẩn, cung cấp, tế-tự Thánh Thần mà chẳng có lễ
thì không trang-nghiêm thành kỉnh.
Bởi thế cho nên người
quân-tử dung mạo phải đoan trang trong tâm phải thành kỉnh, giữ-gìn pháp-độ để
làm cho lễ ra sáng tỏ vậy.
Ðức Khổng-Tử, thỉ chung
làm những việc gì, cũng cần giữ bực trung-dung, nếu không dùng lễ để làm
tiêu-chuẩn cho sự hành-vi thì biết thế nào là trung được, nên Ngài nói rằng:
"Lễ hồ sở dĩ chế trung dã". Lễ vậy ôi!... để đặng chế cho vừa bực
trung vậy.
Lễ là dùng phương diện
phân tôn ty trật-tự, tức là cái phép để tạo nên luân-lý trong gia-đình và xã-hội
quốc-dân vậy.
Có câu: "Phù lễ
Tiên-Vương dĩ thừa thiên chi đạo, dĩ trị nhân chi tình". Lễ là các vì
Tiên-Vương vâng theo cái Ðạo của Trời, để trị tình dục của con người, tình dục
của người vừa biến sanh, chỉ có dùng lễ mà ngăn cản lại được.
Khổng-Tử viết: "Ẩm thực
nam nữ nhân chi đại dục, tồn yên tử vong bần khổ nhơn chi đại ố, tồn yên cố dục
ố giả tâm chi đại đoan dã, nhân tàn kỳ tâm bất khả trắc độ giả, mỹ ác giai tại
kỳ tâm bất kiến kỳ sắc dã, dục nhứt dĩ cùng chi xá lễ hà dĩ tai".
Ðức Khổng-Tử nói: Các việc
tội lỗi của con người là do nơi sự ăn uống quá độ mà sanh ra, nhứt là trai và
gái ăn chung với nhau, thì cái sở dục bao giờ cũng có.... Còn cái giận cái ghét
của con người, là do sự nghèo khổ bịnh hoạn chết mất mà nảy sanh, cái ố-dục là
mối lớn của tâm vậy, cái tâm của con người thường giấu kín, chẳng khá độ lường
đặng, tóm lại nếu muốn biết cho cùng mà không dùng lễ thì chẳng thế nào biết được.
Các bậc Ðế-Vương đời trước,
sở dĩ trị được thiên hạ, là nhờ hiểu rõ cái tình dục của con người, nên mới chế
ra Lễ Nghĩa, để phân tôn-ty trật-tự chuyên trị thất tình là: Hỉ, Nộ, Ai, Lạc,
Ái, Ố, Dục, sửa thập nghĩa là: Phụ-từ tử-hiếu, huynh-để đệ-cung, phu-nghĩa phụ-tiết,
trưởng-huệ, ấu thuận, quân nhân, thần trung. Giảng giáo điều tín nghĩa chuộng sự
hòa thuận, bỏ sự cạnh tranh trộm cướp.
Sự giáo-hóa của Ðức Khổng-Tử,
là tinh-vi hiệu quả rất sâu xa.
Có câu: "Lễ chi giáo
hóa giả vi kỳ chỉ tà dã ư dị hình sử nhân nhựt tỹ thiện viễn ác như bất tự tri
dã". Sự giáo-hóa của Ðức Khổng-Tử mà dùng lễ là cao-sâu mầu nhiệm, có thể
ngăn ngừa các điều tội lỗi trong lúc chưa bày ra, khiến cho người ngày ngày đến
gần chỗ lành, lánh xa điều dữ là người biết lễ vậy.
Ðức Khổng-Tử rất trọng lễ
vậy, nên Ngài nói: Phù lễ cấm loạn chi sở do sanh, do phường chỉ thủy tự lai
dã. Lễ là ngăn cấm các điều rối loạn lúc chưa sanh ra, cũng như con đường đấp để
ngăn cho nước đừng tràn vào vậy.
Người giàu sang mà biết lễ
thì không dâm tàn, không kiêu căng, người bần tiện mà biết lễ thì không nản
chí, không làm quấy, người làm Vua mà biết lễ thì mới biết phép sửa nước trị
dân. Tóm lại: Lễ chi ư chánh quốc giã, do hành chi ư khinh trọng giã, thằng mạc
chi ư khúc trực giã, qui củ chi ư phương viên dã. Lễ đối với việc sửa nước trị
dân, chẳng khác nào như cây cân để đối với vật nặng vật nhẹ, cũng như sợi dây để
đối với vật thẳng vật cong, cũng như cái quy cái củ để đối với vật tròn vật
vuông vậy.
Nếu con người từ ấu chí
trưởng mà biết trọng lễ nghĩa khiêm cung, thì khỏi chịu dưới luật hình trừng trị,
mà đời sẽ trở nên thái-bình an-cư lạc-nghiệp. Sánh với đời Nghiêu-Thuấn,
Võ-Thang, Văn-Võ, Châu-Công, Khổng-Tử, Mạnh-Tử, Nghiêu-Thuấn không lập luật
hình, Võ-Thang không tạo khám đường ngục thất, đời vô-vi nhi trị thiên-hạ
thái-bình là nhờ dân-tộc thời kỳ ấy biết giữ lễ.
Thánh-Giáo của Ðức TÔN-SƠN
dạy:
Lễ nơi mình là khuôn viên
trọng thể,
Lễ nơi nước là phép trị an,
Lễ nơi toàn cầu là đại-đồng
thế-giới.
Nếu không có lễ thì chẳng
làm việc gì mà nên đặng.
THI CHỮ LỄ
LỄ là trật-tự của Thần-Tiên,
LỄ dạy nhơn-sanh giữ tánh
hiền.
LỄ đối toàn cầu điều yếu
trọng,
LỄ qui Tam-Giáo thuận cơ
Thiên.
BÀI SỐ 7
GIẢI-THÍCH CHỮ KHIÊM
Chữ Khiêm là khiêm-nhượng,
dầu mình khôn ngoan trí hóa, tài hay nghề giỏi cũng phải kính nhường người. Có
câu: "Thánh-nhơn bất tự mãn túc, Nghiêu Thuấn kỳ du bịnh chư". Ðức
Thánh-Nhơn còn chưa gọi mình là đầy-đủ, Vua Nghiêu, Vua Thuấn còn có chỗ thiếu
sót thay. Ấy là bậc Thánh Hiền còn phải khiêm-nhượng như thế.
Người đời thường có tánh tự
đắc, kiêu ngạo, chẳng biết khiêm-nhượng là gì, hễ mở miệng ra thì tự-tôn tự-đại,
coi mình như Thần-Thánh, khinh bỉ người nhẹ như mảy lông.
Có câu: "Khinh bạc
chi thái, thị chi quân-tử tắc tán ngô đức, thị chi tiểu-nhân tắc tán ngô
thân". Nghĩa là: Cái thói khinh bạc mà đối với người quân-tử thì tổn cái đức
của mình, còn đối với kẻ tiểu-nhân thì hại cái thân của mình.
Cho nên Ðức Khổng-Tử dạy rằng:
"Thông-minh huệ trí thủ chi dĩ ngu, công bị thiên hạ thủ chi dĩ nhượng,
dõng lực chấn thế thủ chi dĩ khước, phú hữu tứ hải thủ chi dĩ khiêm".
Ðức Khổng-Tử nói: dầu mình
có thông-minh trí huệ hơn người cũng phải coi mình như ngu dốt vậy, dầu mình có
công lao đầy-đủ trong thiên-hạ, thì cũng phải kính nhường người, mình có sức mạnh
hơn đời, cũng phải coi mình như kẻ mềm yếu vậy, dầu mình giàu có trong bốn biển,
thì cũng xem mình như nghèo khổ vậy. Ấy là cái hạnh khiêm-nhượng của Ðức
Thánh-Nhân, để roi truyền cho đoàn hậu tấn.
Chữ khiêm đối với các phương-diện
cần phải thật-hành tất cả. Người bác-học mà biết khiêm-nhượng thì kẻ tài sơ mới
hết lòng mến phục, còn kẻ tài sơ mà biết khiêm-nhượng, thì người bác-học mới
vui dạ dắt-dìu.
Còn tánh hiu-hiu tự đắc,
thì thành ra người không được tiến hóa.
Trong gia-đình mà biết
khiêm-nhượng thì mới được trên thuận dưới hòa. Trong xã-hội mà nhiều người biết
khiêm-nhượng, thì xã-hội mới được thái-bình. Còn người tu-hành đạo-đức mà biết
khiêm-nhượng thì mới đặng hoàn-toàn.
Trong quyển Phương-Châm
Hành-Ðạo của Ðức Quyền Giáo-Tông dạy rằng: Quí hóa thay cái hạnh khiêm-nhượng,
nguy-hiểm thay cho tánh tự-kiêu.
THI
Khiêm cung nhẫn-nại mới là
hay,
Tự-đại tự-tôn chẳng phải
tài.
Xem hạnh người xưa gương
trước mắt,
Mắt dầu không thấy vẫn còn
tai.
BÀI SỐ 8
GIẢNG-GIẢI CHỮ CUNG
CHỮ CUNG LÀ CUNG KỈNH
Ðối với các sự đời và
hành-vi cử-chỉ của con người hằng ngày phải giữ tấm lòng cung kỉnh. Dầu lúc nào
cũng xem mình như ở giữa chốn triều-đình, đứng trên sân tế lễ. Dầu ngồi trong
nhà kín cũng tưởng như: thập mục sở thị, thập thủ sở chỉ. Nghĩa là mười mắt
trông vào và mười tay chỉ vào mình.
Trong Kinh Thơ có câu:
"Như lâm thâm uyên, như lý bạc băng". Phải coi mình như đến vực sâu,
như noi giá mỏng.
Cách cử động của các bậc Cổ-nhơn
cung kỉnh như thế. Con người còn có tánh linh hơn vật, là do nơi biết cung-kỉnh
lễ nghĩa mà cao hơn.
Nếu con người chỉ biết đói
thì ăn, khát thì uống, no ấm thì vui mừng, đói rách thì lo buồn, còn ngoài ra
chẳng biết cung-kỉnh lễ phép là gì. Người như vậy phỏng có khác chi cái hình bằng
gỗ chăng? Thiết tưởng hạng người như thế thiên-hạ kêu là giá áo túi cơm cũng phải.
Ðức Khổng-Tử, giáo hóa
nhơn-sanh có dạy năm điều là: "Ôn, Lương, Cung, Kiệm, Nhượng". Vua
tôi có cung kỉnh thì thiên-hạ mới được thái-bình, cho nên vua Nghiêu đối với
bá-quan thường dùng một chữ Khâm, ngàn thu còn để tiếng Thánh-quân. Cha con có
cung-kỉnh thì gia-đình mới được thuận hòa. Ông vua Thuấn thờ cha mẹ trọn niềm
thủ kỉnh, mà muôn đời còn lưu danh là đại hiếu. Anh em có cung kỉnh với nhau,
mói có tình cảm thân yêu mến. Ðời xưa ông Lý-Tịch làm quan to, ông đã già mà
cung kỉnh bà chị một cách lạ thường. Một hôm bà chị đau ông thân hành đi nấu
cháo cho chị ăn, thổi lửa rủi bị cháy hết râu, người chị thấy em như vậy thì hết
lòng thương xót. Còn vợ chồng mà biết cung kỉnh với nhau, thì tình thân-ái mới
được thuận-hòa, tạo nên cửa nhà đồ sộ.
Ðời xưa vợ chồng ông Khước-Khuyết
tương kỉnh như tân, vợ chồng của ông kỉnh nhường nhau ví như khách quí, thường
bữa ông đi cày bà vợ đem cơm phải quì mà dâng cho ông, rồi chấp tay đứng hầu đến
trọn bữa.
Ngày kia có quan Đại-Phu,
đi ngang qua xem thấy cách cung kỉnh của vợ chồng ông như vậy, bèn về tâu lại với
Vua nước Tấn, Vua liền mời ông Khước-Khuyết phong làm quan Hạ Ðại-Phu, ấy là vợ
ngoan làm quan cho chồng.
Người tu-hành mà biết
cung-kỉnh, thì tinh-thần đạo-đức mới được tăng tiến lên cao. Trong xã-hội từ lớn
chí nhỏ đều biết cung kỉnh lễ phép thì xã-hội mới có vẻ điều-hòa thuần phong mỹ-tục.
Toàn thể nhân-loại mà biết
giữ lễ-nghĩa cung kỉnh với nhau, thì thế-giới sẽ được hòa-bình phục hồi thượng-cổ.
THI CHỮ CUNG
Cung kỉnh là đầu của thế
gian,
Lễ nghi biết giữ đặng
trang-hoàng.
Tài sơ bác-học đều lưu-ý,
Nghiêu-Thuấn thường dùng đối
bá quan.
GIẢI-THÍCH CHỮ NHẪN
Chữ Nhẫn là kiên tâm nhẫn
nại. Bền lòng nhịn nhục được thì cái tâm mới an-tịnh, nhứt là về phương-diện
tu-hành đạo-đức, phải thật hành chữ nhẫn trước hết.
Ðức Khổng-Tử nói: "Tiểu
bất nhẫn, tắc loạn đại mưu". Việc nhỏ mà chẳng nhịn thì cái mưu lớn ắt phải
hư hoại. Ở đời ta thường thấy những việc nhỏ bằng sợi tóc, vì không nhịn được
mà xảy ra sóng gió to lớn, nhiều khi gây nên tai họa giết hại lẫn nhau, là do
nơi chẳng chịu kiên-nhẫn mà biến sanh ra nông nỗi.
Có tích xưa: Ông Quách-Tử-Nghi,
đời nhà Ðường khi còn nhỏ đang đi học, một hôm ông xem kinh Phật thấy câu
"Hắc phong xuy châu phiêu nhập chi khổ hải". Nghĩa là luồng gió đen
thổi chiếc thuyền trôi vào trong biển khổ. Ông không hiểu ý câu ấy ra sao, bèn
đến hỏi một Hòa-Thượng, vị Hòa-Thượng thấy hỏi như vậy, thì thịnh nộ mắng ông
Quách-Tử-Nghi rằng mầy còn con nít biết gì mà dám hỏi những câu đó. Ông Quách-Tử-Nghi
thấy vị Hòa-Thượng trả lời như vậy thì nổi giận hầm-hầm tím mặt. Lúc ấy vị
Hòa-Thượng bèn ung dung day lại cười mà cắt nghĩa cho ông Quách-Tử-Nghi biết rằng:
Sự thịnh nộ của công-tử từ nãy đến giờ tức là luồng gió đen thổi chiếc thuyền
trôi vào biển khổ đó....
Ông Quách-Tử-Nghi hồi tâm
tỉnh ngộ, bèn chấp tay tạ ơn vị Hòa-Thượng, đã dùng một cách gián-tiếp mà chỉ
giáo cho mình. Ôi! Ở đời biết bao nhiêu luồng gió đen, hằng ngày lẩn-quẩn xung
quanh mình của chúng ta, nếu chúng ta không hết sức lấy tấm lòng kiên-nhẫn ra
chống chỏi, thì cơ hồ thân thể của chúng ta như một chiếc thuyền nhỏ kia, có
ngày chìm đắm vào trong bể khổ.
Có bài sách Thầy Tử-Trương
hỏi Ðức Khổng-Phu-Tử về chữ nhẫn. "Tử-Trương dục hành từ ư Phu-Tử, nguyện
tứ nhứt ngôn vi tu nhân chỉ yếu". Thầy Tử-Trương muốn đi làm việc chánh,
bèn đến từ tạ Ðức Khổng-Phu-Tử, xin cho một lời để làm phép sửa mình.
Phu-Tử viết: "Bá hạnh
chi bổn nhẫn chi vi thượng". Ðức Khổng-Tử nói: Trăm nết chung gốc chỉ có
chữ nhẫn là cao thượng hơn hết.
Tử-Trương viết: Hà vi nhẫn
chi. Thầy Tử-Trương hỏi tại sao mà phải nhịn đó. Phu-Tử viết:
Thiên-Tử nhẫn chi quốc vô
hại,
Chư-Hầu nhẫn chi thành kỳ
đại.
Quan-Lại nhẫn chi tấn kỳ vị,
Huynh-đệ nhẫn chi gia phú-quý,
Phu-phụ nhẫn chi chung kỳ
thế,
Bằng-hữu nhẫn chi danh bất
phế,
Tự thân nhẫn chi vô họa hoạn.
Nghĩa là: Làm Vua mà biết
nhịn thì trong nước không có điều tai hại, bậc chư-hầu mà biết nhịn thì nên
nghiệp lớn.
Bậc Quan-Lại mà biết nhịn
thì phẩm-vị đặng cao thăng.
Anh em biết nhịn với nhau
thì nhà cửa đặng giàu sang.
Chồng vợ biết nhịn thì niềm
ân-ái mới đặng trọn đời. Bậu bạn biết nhịn thì danh nghĩa chẳng hư, còn thân của
mình mà biết nhịn chẳng lo tai họa.
Tử-Trương viết: "Bất
nhẫn hà như". Thầy Tử-Trương hỏi: Còn chẳng nhịn thì dường nào? Phu-Tử viết:
Thiên-Tử bất nhẫn quốc khống
hư,
Chư-Hầu bất nhẫn tán kỳ
xu,
Quan-Lại bất nhẫn hình phạt
tru,
Huynh-đệ bất nhẫn cát phân
cư,
Phu-phụ bất nhẫn tình ý
sơ,
Tự thân bất nhẫn hoạn bất
trừ.
Nghĩa là: Làm Vua mà chẳng
nhịn thì nước phải trống không. Bậc Chư-Hầu chẳng nhịn thì hư bại thân mình. Bậc
Quan-Lại không nhịn thì phải chịu hình phạt. Anh em chẳng biết nhịn nhau, thì
chia của cắt nhà phân ly thủ túc. Chồng vợ chẳng nhịn thì tình nghĩa ra phai lợt.
Còn bổn thân của mình mà chẳng biết nhịn thì mọi việc hoạn họa chẳng dứt....
Ðức Khổng-Tử giải nghĩa
các bậc rồi, Thầy Tử-Trương ngậm-ngùi mà than rằng: phải lắm, phải lắm, thật là
khó thay nếu không có chí kiên-nhẫn thì cũng khổ cho bổn phận làm người.
Trong Kinh Hoa-Nghiêm có
câu rằng: "Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai". Một phen
nư giận nổi lên thì muôn ngàn nghiệt chướng nảy sanh. Trong các kinh sách của
Phật, Tiên, Thánh-Hiền hằng ngày dạy nhơn-sanh chữ nhẫn làm đầu, mà con người
mơ-màng chưa tỉnh ngộ.
Chúng ta nhận xét qua một
trận giông tố, ắt phải có cây ngã, nhà sập, thuyền tàu chìm đắm. Còn người trải
qua những cơn thịnh nộ rồi, thường có xãy ra lắm điều tai ương hoạn-họa, khi biết
tự-tỉnh ăn-năn thì việc đã muộn rồi.
Vậy mà có nhiều người trải
qua biết bao nhiêu lần giông tố, mà cũng không biết kiên-nhẫn chút nào, thật
cũng đáng buồn cho đó ...
Có tích Ông
Trương-Công-Nghệ:
Ngày xưa ông
Trương-Công-Nghệ chín đời cùng ở với nhau một nhà. Có câu:
"Trương-Công-Nghệ cửu thế đồng cư". Vợ chồng con cháu có mấy trăm người
mà trọn đời chưa có điều chi xích-mích, trong gia-đình bao giờ cũng đấm ấm như
khí hòa mùa xuân.
Ngày kia Vua nghe tin bèn
ngự giá đến nhà ông mà hỏi rằng: nhà của ngươi dùng cách gì mà trong gia-đình
vui-vẻ thuận-hòa với nhau như vậy?
Ông Trương-Công-Nghệ bèn
viết một chữ NHẪN thiệt lớn vào trong tấm giấy mà dâng lên cho Vua.... Vua xem
rồi lấy làm kính phục, liền ban cho ông một trái lê thử coi ông xử sự ra sao.
Ông bèn sai người cắt trái lê bỏ vào trong cái thùng lớn đổ nước nấu sôi, rồi
kêu tất cả người trong nhà đến trước mặt, cho uống mỗi người một muỗng, để gọi
là chung hưởng ân Vua.
Ôi! Tấm lòng nhẫn nại của
ông quý biết chừng nào.
Ðến đổi nhà của ông có
nuôi một trăm con chó, mỗi bữa ăn cho ăn cơm nếu thiếu một con nào thì hết thảy
cả bầy đều không ăn đứng đợi....
Sự nhẫn nại của ông kịp đến
cả súc vật cũng biết nhẫn nhượng như thế. Ðời nay những người không biết kiên
nhẫn mà xem đến truyện của ông thì há chẳng hổ mình lắm sao?
Có câu:
Trương-Công-Nghệ trăm phần
nhẫn nhịn,
Chín đời cùng xúm-xích ở
chung.
Tiếng lành đồn thấu bệ rồng,
Một nhà sum hiệp Cửu-Trùng
ban khen.
"Bá nhẫn đường trung
hưởng thái hòa"
Nếu trăm điều mà nhịn được
hết, thì trong gia-đình sẽ được thuận-hòa vui-vẻ vô cùng.
THI
Huệ Lan chung đứng mái tây
hiên,
Biết phải cùng nhau dữ hóa
hiền.
Kẻ đố người làm đôi đứa hại,
Trăm điều nhẫn nhịn mới là
Tiên.
TÂN-LUẬT VÀ
PHÁP-CHÁNH-TRUYỀN
(Giảng-giải về đại-cương)
Tân-Luật là do theo
Thánh-giáo mà lập thành, mọi sự hành trình của Chức-Sắc, Chức-việc và Ðạo-Hữu
nam nữ đều tuân y theo Tân-Luật mà thi-hành phận sự. Bởi Tân-Luật là thế cho
Thiên-Ðiều, hễ phạm Tân-Luật thì tức nhiên là phạm Thiên-Ðiều ắt phải chịu tội
lỗi do Thập-Hình của Ðức LÝ GIÁO-TÔNG trừng trị.
Vậy những người nhập-môn
tùng giáo, vào Ðạo Cao-Ðài thì phải thật hành theo Tân-Luật, là trau-giồi đức-hạnh,
cần phải học thuộc lòng Ngũ-Giới Cấm và Tứ-Ðại Ðiều-Qui, giữ theo đó mà tu-hành
cho tròn bổn phận của một vị tín-đồ trong nền Tôn-giáo Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ. Mỗi
người nhập-môn rồi phải thỉnh một quyển Tân-Luật, để học hỏi cho hiểu rõ mọi điều,
và do theo đó mà làm mực thước để độ lượng bước đường hành đạo của mình, mới có
thể tiến-triển cao thăng đạt thành phẩm vị.
Trái lại, người vào Ðạo mà
không thiệt hành theo Tân-Luật chẳng giữ trọn lời minh-thệ buổi ban sơ, thì
không thế nào thành công đắc Ðạo.
PHÁP-CHÁNH-TRUYỀN
Pháp-Chánh-Truyền chú-giải,
cũng do theo Thánh-giáo của Ðức CHÍ-TÔN đã định phẩm tước quyền hành của Chức-Sắc
Hiệp-Thiên, Cửu-Trùng và Chức-việc nam nữ, lớn nhỏ đều có trật-tự phân minh. Ðức
HỘ-PHÁP chú-giải thêm sáng tỏ từ chi tiết, để cho Chức-Sắc từ Ðại Thiên-Phong đổ
xuống tới Chức-việc Bàn-Trị-Sự, do theo đó mà thi-hành cho được vuông tròn
trách-nhiệm, không ai có phép canh cải chơn-truyền của Ðạo. Nếu vị nào phạm vào
Pháp-Chánh, thì bị đưa ra Tòa Tam-Giáo.
Cũng như phần Ðời có
gia-pháp, hay là quốc-pháp. Bổn phận làm con mà chẳng tùng mạng lịnh của cha mẹ
trong gia đình, thì tức nhiên là con ngổ-nghịch bất hiếu.
Bổn-phận làm dân mà không tuân
lịnh của Triều-đình Chánh-Phủ trong nước, ấy là kẻ phản loạn quốc-gia thì phải
chịu tội tình hành phạt.
Còn người giữ Ðạo mà bất
tùng Luật-Pháp chơn-truyền của Ðức CHÍ-TÔN thì trái với lời minh-thệ khi nhập-môn
đã không được chung hưởng ân-huệ của Ðức CHÍ-TÔN ban cho mà còn bị quyền
Thiêng-Liêng trừng-trị là khác.
LUẬT-PHÁP CHƠN-TRUYỀN
của nền ÐẠI-ÐẠO TAM-KỲ PHỔ-ÐỘ
Luật là Tân-Luật và Ðạo-Luật,
Pháp là Pháp-Chánh-Truyền chú-giải. Chơn-truyền của Ðạo là Thánh-Ngôn Hiệp-Tuyển.
Ðức CHÍ-TÔN giáng cơ khai Ðạo, từ buổi ban sơ đã chỉ rõ đường đi nước bước, ấy
là lời vàng tiếng ngọc, dạy từ chơn tóc kẻ răng sau nữa là Pháp-Chánh-Truyền và
Bát-Ðạo Nghị-Ðịnh, của Ðức LÝ GIÁO-TÔNG dạy về Chánh-Trị-Ðạo, thì dầu cho Chức-Sắc
Thiên-Phong đổ xuống tới hạng tín-đồ, cũng phải tuân y theo đó mà thi-hành phận
sự. Nếu ai canh cải chơn-truyền của Ðạo thì gọi là dị đoan bất chánh, phạm vào
Luật-Pháp phải bị đưa ra Tòa Tam-Giáo xử trị.
Tân-Luật và Ðạo-Luật, thì
do quyền Vạn-linh sửa đổi được những khoản nào không phù hạp với nhơn-sanh. Còn
Thánh-Ngôn Hiệp-Tuyển, Pháp-Chánh-Truyền và Bát Ðạo Nghị-Ðịnh thì bất di bất dịch.
Luật-pháp qui điều của các
nhà Tôn-giáo xưa nay là khuôn viên trọng thể. Ai là người tự xưng mình rằng
môn-đệ trong ba nhà: Nho, Thích, Ðạo thì phải do theo kỷ-luật của vị Giáo-chủ
di truyền, mà thật hành cho được hoàn-toàn bổn phận, nếu đệ-tử trong Tôn-giáo
nào chẳng tùng Luật-pháp qui điều, lại canh cải chơn-truyền của Ðạo, thì dầu có
tu hữu công cũng khó mong thành chánh quả.
Ví như người đời mà chẳng
giữ theo điều luật của Chánh-phủ thì tức nhiên đời loạn quốc-pháp, phong-hóa
suy đồi, luân-lý cang thường điên đảo.
Ðạo là Luật-pháp công-bình
Thiêng-liêng của Tạo-hóa, để truyền-bá cho đời, người biết giữ theo luật Ðạo
thì ví như một người thợ mộc, làm việc chi cũng có mực giăng thước độ, thì khí
dụng mới được hoàn thành.
Con người mà không giữ
theo Luật-pháp của Ðạo, thì chẳng khác nào kẻ làm thợ không có mực thước thì cả
khí dụng ắt phải hư hoại. Luật-pháp là nấc thang tấn-hóa, mọi sự hành-vi của con
người, dầu các cuộc chơi cũng có luật-pháp....
Luật-pháp qui điều là: bốn
phương-diện để răn mình chừa lỗi, gọi là: "Qui, Củ, Chuẩn, Thằng". Có
câu: Bất dĩ qui củ chuẩn thằng, bất năng thành phương viên....
Người làm thợ mà chẳng noi
theo mực thước thì phận-sự không đặng vuông tròn. Còn người tu mà chẳng giữ
theo Luật-pháp chơn-truyền của Ðạo, thì không đắc quả phẩm vị Phật, Tiên mà còn
phạm tội Thiêng-liêng là khác.
Tóm lại, Ðức CHÍ-TÔN khai
Ðại-Ðạo kỳ thứ ba nầy gọi là cơ-quan giải khổ cho chúng sanh, nếu chúng sanh muốn
được thoát khổ, thì dùng phương châm tu-hành đạo-đức mà làm kế bảo an và cần phải
thật hành y theo khuôn viên luật-pháp của Ðạo thì mới chung hưởng cơ hòa-bình
an-cư lạc-nghiệp.
BÀI SỐ 12
TAM-LẬP
Lập công - Lập đức - và Lập
ngôn
1. - Lập công là: Lập
công-nghiệp với Ðạo cho đầy-đủ, mới có thể thọ phong vào hàng Chức-Sắc, hay là
đạt thành phẩm-vị thiêng-liêng, cao thấp là tùy theo công-nghiệp nhiều ít.
Ví như phần đời các bậc
trung-thần tể-tướng, cũng do nơi lập công-nghiệp với Triều-đình, mà đặng chức
trọng quyền cao lộc cả. Chưa từng thấy một người nào bình nhựt ở không chơi bời
lười biếng, mà được giàu sang vinh hiển, lập nên danh thể lưu lại trên đời mà
cũng chẳng thấy một nhà tu nào, không chịu khổ hạnh vì Ðạo mà đắc thành Thiên-vị
phẩm tước cao siêu ấy là chơn-lý hiển nhiên từ thử.
2. - Lập đức là: Lập đức-hạnh
cho được hoàn toàn ấy là một nấc thang tiến hóa đến cực phẩm Thiêng-liêng.
Ðức-hạnh đủ đầy ví như hai
cái chơn mạnh-mẽ, có thể trèo lên tới đảnh thượng, vẹt ngút mây xanh, biết rõ
cơ mầu nhiệm, thanh-nhàn vui-vẻ hơn mọi sự.
Có câu: "Ðức trọng quỉ
thần kinh". Những người lập đức được cao trọng, thì dầu cho quỉ thần cũng
phải kiêng nể hay là võ lực hùng oai cũng chẳng màng ...
Người có đức cũng như cây
lớn có gốc rễ nhiều, dầu gặp giông tố bão-bùng cũng không khi nào xiêu ngã.
"Ðại đức đôn hóa, tiểu
đức xuyên lưu". Ðức lớn thì ngưng tụ vững bền, còn đức nhỏ hay là khiếm đức,
phải chịu trôi giạt không bờ bến dựa nương ... Ðức là căn bản nguồn cội trường
tồn, còn tài-sản như sương đeo ngọn cỏ.
Những người cố tâm lập đức,
thì hay thi-ân tế-chúng phổ hóa nhơn-sanh, mọi sự hành-vi đều có lợi ích chung
cho đồng loại. Trên thuận tùng Thiên-lý, dưới phù hạp nhân tâm giá-trị quí hơn
ngọc ngà châu báu.
Có câu: "Ðức thắng
kim". Ðạo-đức là trọng hơn vàng bạc, ấy là lời của Thánh-nhơn dạy con người
cần lập đức.
3. - Lập ngôn là: Kính cẩn
thận trọng từ lời nói, những lời thốt ra phải có đạo-đức, nhơn-nghĩa,
khiêm-cung, thì mọi người đều cảm hoài yêu chuộng.
Còn lời nói có tổn hại cho
nhơn sanh là những điều bất nghĩa vô nhân, làm cho thiên-hạ vì lời nói của mình
mà phải chịu thảm sầu đau khổ, thì tự nhiên phải mang câu thất đức.
Ðức Khổng-Tử nói:
"Bán cú phi ngôn ngộ tổn bình sanh chi đức".
Ðức Thánh-nhân dạy rằng:
"Xuất kỳ ngôn thiện, tắc thiên-lý chi ngoại ứng chi, xuất kỳ ngôn bất thiện,
tắc thiên-lý chi ngoại vi chi". Nghĩa là nói ra một lời lành, thì chưng
ngoài ngàn dặm thiên-hạ nghe mà cảm động hưởng ứng theo đó, còn nói ra những lời
chẳng lành, thì chưng ngoài ngàn dặm thiên-hạ nghe mà nghịch đó.
"Xuất nhứt ngôn khả
dĩ hưng bang, xuất nhứt ngôn khả dĩ tán bang". Một lời nói có thể làm cho
lợi ích nước nhà, cũng một lời nói mà làm hư hoại tất cả giang-san sự nghiệp.
Vậy làm người cần phải biết
cẩn ngôn là dè-dặt thận trọng từ lời nói.
Trước khi thốt ra những lời
nói ta nên xét đoán suy nghĩ được 3 điều:
- Một là chơn chánh, - hai
là hữu ích, - ba là dễ thương.
Nếu nói ra mà không đặng
ba điều ấy, thì tốt hơn là làm thinh còn hay hơn nói.
"Nhứt ngôn trúng vạn
ngôn dụng, nhứt ngôn bất trúng vạn sự bất thành".
Tóm lại vấn-đề Tam Lập:
Mỗi người trong Ðạo hay là
ngoài đời, mà thật hành cho được vẹn toàn thì tư-cách phẩm-giá của con người sẽ
trở nên tôn nghiêm cao trọng.
BÀI SỐ 13
TU THÂN - TU TRÍ - TU TÂM
Con người trên mặt thế nầy
mà được cao thượng là chỉ nhờ có một phương tu. Danh thể giá-trị được tôn trọng
hơn người, là nhờ biết tu thân và tu trí.
Bởi thân thể đặng trong sạch,
trí não được thông minh sáng suốt, mới có thể giúp hay cho quốc-gia xã-hội làm
những điều ích nước lợi dân, tạo hạnh-phúc cho giống nòi chung hưởng.
Còn tiến triển cao hơn đạt
thành phẩm-vị: Thần, Thánh, Tiên, Phật, là nhờ biết dưỡng tánh tu tâm.
Ngoài ba phương diện: Tu
thân, tu trí và tu tâm, thì con người phải cam chịu ở vào hàng hạ đẳng.
Ngày nào toàn thể
nhơn-sanh mà thật hành được ba phương tu kể trên, thì đời sẽ biến thành cảnh Cực-Lạc
Thiên-Ðường tại thế.
BÀI SỐ 14
CHÍ KHÍ TINH-THẦN PHẤN-ÐẤU
Con người sanh ra tại thế
nầy, mọi sự hành-trình cần phải có chí phấn đấu, bất luận làm một việc gì, trước
khi khởi sự ta phải suy nghĩ cho đáo để, xét đoán điều lợi hại phân minh rồi mới
quyết định thật hành, khi đã khởi công phải có chí khí phấn đấu, thì mới đặng kết
quả mỹ-mãn và sớm muộn ta sẽ đạt thành nguyện vọng, ấy là cái chí khí của người
trượng-phu, làm những việc gì cũng cương-quyết, không bao giờ nản lòng bán đồ
nhi phế.
Nếu con người làm chuyện
chi, mà chẳng có sự quyết định và thiếu chí phấn đấu, thì công-trình dầu cực nhọc
bao nhiêu, kết cuộc cũng trôi theo dòng nước.
Thiết tưởng kẻ sĩ vào trường-học,
cũng phải có chí phấn đấu, là siêng-năng cần mẫn thức khuya dậy sớm, chuyên lo
nấu sử xôi kinh thập niên đăng quả, mới đậu cấp bằng tốt-nghiệp ra làm quan
giúp nước trị dân.
Nếu kẻ sĩ vào trường mà
không kiên tâm học hỏi, lại thiếu chí phấn đấu thì chẳng khi nào lập nên danh
phận mà còn trốn học bỏ trường, cam chịu tiếng chê cười thấp hèn dốt nát.
Người làm ruộng cũng phải
có chí phấn đấu, là chịu dầm mưa chải nắng, quanh năm luống phận cần-cù khai mở
đồn điền cho rộng lớn, nông-vụ tấn thời, cày cấy cho kịp thì tiết mùa màng, đến
ngày kết-quả mới có lúa nhiều, để bảo tồn sự sống cho con người được ấm no đầy-đủ.
Trái lại, người nông-phu
mà không có chí phấn đấu, thì cũng như kẻ thiếu nợ làm ruộng giao cho chủ điền,
chỉ có công làm mà không được ăn.
Luận qua người tu-hành đạo-đức
phải có đủ chí khí tinh thần phấn đấu. Chịu trải qua lắm nỗi truân-chuyên khảo-đảo
lao tâm tiêu tứ vạn khổ thiên tân, mới đạt thành phẩm-vị thiêng-liêng, cao thấp
và tùy theo công-nghiệp.
Nếu người tu mà không có
chí phấn đấu, không thắng nổi lục-dục thất-tình, lại thiếu đức-tin với Ðạo, thì
sớm muộn sẽ cuốn tượng thôi tu, thất thệ xa Thầy phản Ðạo.
Nho-Giáo có câu: "Chấp
đức bất hoàng, tín đạo bất đốc, yên năng duy-hữu, yên năng duy-vô". Nghĩa
là: người giữ Ðạo mà không hoằng-hóa ra rộng lớn, tin Ðạo không đốc thực, thì dầu
có nhiều người như vậy cũng chẳng lợi ích chi, mặc dầu không có cũng chẳng hại
chi.
Kết-luận trong Ðạo
Cao-Ðài:
Từ Chức-Sắc Thiên-Phong
cho đến Chức-việc và Ðạo-hữu nam nữ, mà được tồn tại vững bền tới ngày nay, trước
mắt trông thấy cơ Ðạo tiến-triển như thế. Ấy là nhờ có đủ nghị lực tinh-thần phấn
đấu, đã từng gian lao khổ hạnh dầu phải hi-sinh vì Ðạo cũng chẳng ngã lòng, thật
là xứng đáng con cái hiếu-hạnh của Ðức CHÍ-TÔN, và trọn bổn phận tín-đồ
trung-thành với Hội-Thánh.
Vậy từ đây anh em chúng ta
cần phải nung nấu tinh-thần phấn đấu cho được tăng tiến thêm nữa, và hiệp cả
Thánh-tâm đoàn-kết với nhau, cho thành một khối kiên cố vững bền, để chung lo
tô điểm nền Chơn-giáo, cho được rực-rỡ quang minh và lo kiến-thiết sự nghiệp nước
nhà, cho sớm phục hồi trật-tự an-ninh, dân-tộc đặng chung hưởng hòa-bình, ấy là
ngày của chúng ta đạt thành nguyện vọng, mới xứng đáng một kiếp sanh hữu duyên
gặp Ðạo.
BÀI SỐ 15
TINH-THẦN ÐOÀN-KẾT
Từ xưa đến nay dân-tộc
trong nước, hay là một xã-hội nào có tình đoàn-kết với nhau, thì thấy đủ năng lực
tinh thần mạnh-mẽ.
Theo lời của Bà Ðoàn-Thị-Ðiểm
nói:
Trong vũ-trụ hiệp hòa là mạnh,
Phận đồ thơ phải gánh non
sông.
Anh em bạn tác vầy đông,
Xô thành cũng ngã lấp sông
cũng bằng.
Ðức Thanh-Sơn Ðạo-Sĩ dạy
hai câu:
Vầy thuyền chi sợ cơn
giông tố,
Hiệp chủng còn hơn cuộc
chiến tranh.
Xem như thế thì sự đoàn-kết
là một khối năng-lực dõng mãnh phi thường.
Trải qua mấy năm trên mặt
báo chương hằng thấy nêu lên những câu: Ðoàn-kết là sống, chia rẽ thì chết.
Vậy anh em đồng đạo và đồng-bào
của chúng ta, nên để tâm chiêm nghiệm cho đáo để thì thấy rõ trong một đoàn thể
nào, mà có cảm tình thương yêu liên-lạc với nhau, đồng tâm hiệp lực, kết dây
thân ái cho được vững bền thì mọi hành trình sẽ kết-quả trăm phần thắng lợi.
Còn một việc dở tệ hơn hết là: Người chung thờ một nền Tôn-giáo, một chủ-nghĩa
với nhau mà chẳng biết đoàn-kết thuận-hòa cùng nhau, lại cố tâm chia rẽ phân
phe lập phái thù nghịch kích-bác lẫn nhau để cho thiên-hạ trông vào cười chê
khinh bỉ, trong Tôn-giáo hay một đoàn thể nào, có những hành động trái ngược
như vậy thì kết-cuộc sẽ thấy tai hại chẳng nhỏ.
Xem gương trước như ba vị
anh hùng Lưu, Quang, Trương hay Sài, Triệu, Trịnh, chỉ có ba người hiệp đồng
tâm đoàn kết với nhau, mà tạo thành giang-san Hớn-thất cơ nghiệp Tống Triều ấy
là gương hiệp-hào để nêu cao cho đoàn hậu tấn.
Riêng về Ðạo Cao-Ðài, thì
Ðức CHÍ-TÔN cùng các Ðấng Thiêng-Liêng, đã chỉ giáo sự thương yêu liên-lạc
đoàn-kết cùng nhau, thì sự lợi ích thế nào? Còn chia rẽ thù nghịch lẫn nhau thì
tội-lỗi ra sao đều có dạy rõ.
Vậy anh em chúng ta cần phải
sưu-tầm những lời Thánh-Giáo để làm phương-pháp thiệt hành cho đặng vẹn toàn phận
sự môn-đệ của Ðức CHÍ-TÔN.
BÁT-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG chỉ
giáo bốn câu thật là chí lý:
Ong kiến là loài rất tế vi,
Nó còn ưu-ái chẳng quên nghì.
Người đời ví biết hai điều ấy,
Thử hỏi ai mà lại dám khi.
Xét ra loài ong kiến là vật
tế vi, còn biết đoàn-kết với nhau mà tạo thành hang ổ có trật-tự phân minh và đủ
năng lực đáng kiêng nể....
Làm người có tánh linh hơn
vạn-vật, nếu chẳng biết thương yêu đoàn-kết với nhau, lại còn tranh đua cừu hận
giết hại lẫn nhau thì cũng lấy làm tủi hổ.
Than ôi, phong-hóa suy tồi,
nhơn-luân điên đảo, lòng người quỉ quái ngậm xương nòi giống, xé thịt lẫn nhau,
hằng ngày xảy ra những tấn tuồng thảm thương bi kịch xem thôi mỏi mắt, nghe đã
nhàm tai, những người có tấm lòng bác-ái từ-bi, cũng phải ngậm-ngùi khổ tâm
than trách.
Ðến như cuộc thế-giới chiến-tranh,
nhơn-sanh điêu linh đồ thán, ấy là tại mất sự thương-yêu đoàn-kết với nhau, nên
mới xảy ra tai nạn tương-tàn tương-sát.
Ngày nào toàn thể nhơn-loại
trên mặt địa-cầu nầy, mà biết đồng tâm hiệp lực đoàn-kết với nhau thì thiên-hạ
mới được hòa-bình an-cư lạc-nghiệp.
BÀI SỐ 16
THIỆN-ÁC PHÂN MINH
Giải thích sở hành thiện,
ác của con người, từ buổi sơ khai cho đến thời kỳ Hạ-Nguơn hiện tại.
Kỳ Hạ-Nguơn cận mãn, cuộc
tuần-huờn tái tạo qui cổ hầu sang.
Ðức CHÍ-TÔN hoằng khai Ðại-Ðạo
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, gọi là cơ-quan cứu thế, chủ-nghĩa giáo dân qui thiện, tức là xây
chuyển tâm-lý của người phản bổn huờn nguyên.
Bởi con người đồng thọ nhứt
điểm linh-quang của Tạo-hóa, ban cho một cái tánh lành. Có câu: "Nhơn chi
sơ tánh bổn thiện". Người mới sanh ban đầu thì có tánh trọn lành, biết giữ
theo đường Thiên-lý, làm việc chi cũng noi phép công-bình chánh trực, không nhiễm
loạn một điểm vạy tà "Tài thị không sắc thị không" gọi là tâm hữu
Thánh-đức. Ðời Thượng-cổ người người đồng giữ một tánh lành, kêu là tánh tương
cận. Trải qua đến Trung-Nguơn và Hạ-Nguơn nhơn tâm thất chánh, con người chia
ra làm hai hạng, quân-tử và tiểu-nhơn. Hạng người quân-tử thì biết giữ bổn tâm
chơn tánh, lương-tri, lương-năng vẫn còn tự nhiên. Hạng tiểu-nhân thì buông
lung tâm tánh, bỏ phép công-bình, vật dục sở nhiễm khí bẩm sở câu, sa đắm hồng
trần sắc, tài, tửu, khí làm cho điểm linh-tâm mờ ám, không phân biệt đường
chánh nẻo tà, gian tham xảo trá trộm cướp bạo tàn, luân-lý cang-thường đều
nghiêng đổ.
Hạng người ấy đã trở nên
hung ác, toàn thể phải hẩm vào con đường tội lỗi, chịu các điều hình phạt khổ sở
truân chuyên, đó là sự lầm-lạc của con người chẳng biết khử nhơn-dục tồn
thiên-lý.
Cho nên người đời ngày
nay, chỉ có hai phương-diện một là thiện, hai là ác. Phân ra lành dữ đen trắng
hai đường chánh tà đôi nẻo, để cho mọi người tùy ý mà tuyển chọn mà
thi-hành....
Ai xu hướng theo việc làm
lành lánh dữ, dưỡng tánh tu tâm, lập công bồi đức cứu độ nhơn-sanh, thương người
mến vật căng cô truất quả, kỉnh lão hoài ấu, tế nhơn chi cấp, cứu nhơn chi
nguy, chú trọng về đạo-đức tinh-thần, thì đặng an-nhàn thung dung tự toại.
Còn ai thích hợp việc làm
dữ, chuyên môn sát sanh hại mạng, xuy mao cầu tỳ, đồ mưu hoạch kế, gian tham trộm
cướp tàn bạo sanh linh, hại nhân ích kỷ tán tận lương tâm, chẳng kiêng phép nước,
không sợ luật Trời, cho kiếp chết là mất, xem sự luân-hồi thưởng phạt là điều
vô hiệu-quả, cho nên việc ác nào cũng dám làm. Những hạng người làm dữ thì dầu
có dõng lực chấn thế, cường bạo đến bực nào, cũng còn quyền luật-pháp hữu hình,
hay là vô-vi trừng-trị, chẳng bao giờ thoát khỏi chốn lao-lung.
Có câu: Nhược hữu nhơn tác
bất thiện đắc hiển danh giả, nhân bất hại thiên tất tru chi. Bằng có người làm
những việc chẳng lành, mà đặng giàu sang danh cao lộc cả, thì người chẳng hại,
Trời ắt giết đó ...
Ðáng quí những người biết
làm lành, vị chủ bất vị ngã, làm nhiều việc có lợi ích chung cho nhơn-quần xã-hội,
đặng hưởng mọi điều hạnh-phúc; trên thuận với lòng Trời, dưới cộng hòa cùng đồng
chủng quốc-dân, đáng mặt râu mày ưu thời mẫn thế.
Nếu con người từ ấu chí
trưởng, mà biết trau-giồi tâm đức, un-đúc tinh-thần cho trở nên chí-thiện thì
chẳng còn cái quyền hành thế lực nào, mà cường bức chuyên trị cái quyền tự-do
chí-thiện ấy đặng.
Bởi nước nào cũng trọng dụng
cảm thương yêu người làm lành.
Có câu: Sở quốc vô dĩ vi bửu,
dĩ thiện vi bửu dã. Nghĩa là: Bên nước Sở không lấy vật chi mà làm của báu
trong nước, chỉ dùng người lành mà làm vật quí báu trong nước vậy.
Nếu nhơn-sanh toàn thể hiệp
đồng nhứt tâm, chung thờ chủ-nghĩa nhân đạo, thì tự nhiên đắc giải thoát. Bởi
luật hình của đời, là để răn phạt những kẻ gian tế, làm rối loạn quốc-dân, mất
sự trị an trong nước. Chớ không có khuôn luật nào để buộc tội lỗi những người đạo-đức
hiền lương.
Ngày nào nhơn-sanh thật
hành cho đặng trọn lành, thì đương nhiên là kế bảo an quyền hành tự chủ. Bởi
con người có nhứt điểm linh-tâm, đủ năng-lực làm chủ xác thân, mà tại người chẳng
kỉnh trọng linh-tâm nên mới mất quyền vi-chủ. Nếu con người biết giác-ngộ, tầm
phương lập quyền tự-chủ, điều khiển cái thân thể của mình, thì chẳng còn ai đặng
phép làm chủ mà cai-trị mình nữa. Tóm lại, nhơn-sanh biết thức tỉnh tâm hồn
ăn-năn sám hối, cải cựu ác tùng tân lương, diệt giả phò chơn, khử tà qui chánh
thì quyền tự-do tự-chủ tự-lập sẽ huờn nguyên phản bổn, ấy là chí-thiện vậy.
BÀI SỐ 17
TRIẾT-LÝ THIỆN VÀ ÁC
Thiện ác là thế nào? Thiện là lành ác
là dữ.
Chiếu theo luật công-bình thiêng-liêng của Tạo-hóa,
thì lành thưởng dữ răn, lành siêu dữ đọa.
Tùng thiện như đăng, tùng ác như băng. Làm theo việc lành thì thuộc thanh khí
nhẹ nhàng tức nhiên thăng phù siêu thoát.
Còn làm theo điều dữ, thì
thuộc về ác khí trọng trược, là phải hạ giáng trầm luân. Cũng như thế gian hiện-hữu,
người lành thì được thong thả tự-do. Kẻ dữ phải chịu lao tù khổ sở. Thiện hữu
thiện báo, ác hữu ác báo. Lành có lành trả, dữ có dữ trả. Thiện ác nhược vô
báo, càn-khôn tất hữu tư. Nếu làm lành mà không được hưởng phước còn làm dữ mà
chẳng có tai họa, thì Trời Ðất ắt có tư vị hay sao? Không, Trời Ðất chẳng bao
giờ mà tư vị ai tất cả.
Bởi có câu: Thiên Ðịa chí
công, Thần minh ám sát, bất vị tế hưởng nhi giáng phước, bất vị thất lễ nhi
giáng họa. Nghĩa là: Trời Ðất công-bình có các Ðấng Thần-minh soi xét, chẳng phải
vì sự cúng tế cầu khẩn mà ban phước, cũng chẳng vì thiếu lễ vật cúng kiếng mà
xuống cho tai họa. Chỉ có làm lành hay làm dữ mà định phần phước cùng họa, báo ứng
phân minh.
Ðức Thái-Thượng nói: Thiện
ác chi báo như ảnh tùy hình. Lành dữ đều có trả cũng như bóng theo hình....
Xem về mặt hình-thức hữu
vi, thì những hạng làm lành thấy chơn-chất nhu-nhược, không bằng cái thể tướng
của kẻ làm dữ, bởi kẻ dữ thì có oai thế hùng cường mạnh bạo, ai xem thấy cũng đều
kinh khủng. Mà kết cuộc người làm lành vẫn được trường tồn, còn kẻ làm dữ thị tự
nhiên tiêu-diệt.
Có câu: Hành thiện chi
nhơn như xuân viên chi thảo, bất kiến kỳ trưởng nhựt hữu sở tăng, hành ác chi
nhơn như ma đao chi thạch, bất kiến kỳ tổn nhựt hữu sở khuy. Nghĩa là những người
làm lành như cây cỏ mùa xuân, tuy là khô-khan còi cọc chẳng thấy lớn, mà đến
lúc mưa dào thì phát triển thạnh mậu, nhành lá tươi tốt sum-sê. Còn những hạng
người làm dữ thì xem sắc sảo cũng như lưỡi dao bén mài trên đá, tuy là chẳng thấy
hao mòn, mà tự nhiên nó cùn tận.
Chẳng khác cái lưỡi với
răng. Cái lưỡi tuy mềm mà còn mãi mãi, cái răng rất cứng mà kết cuộc thì nó gãy
hết không còn....
Chiếu theo Nho-Giáo của Ðức
Khổng-Tử lưu truyền thì mỗi bộ sách đều có dạy việc thiện và ác, nhưng có chỗ
thì nói sự báo ứng thậm tốc, về mặt hình-thức, còn có chỗ thì nói quả báo bí ẩn
vô-vi.
Có câu: Sỡ dĩ nhơn tâm khởi
ư thiện, thiện tuy vị vi nhi kiết thần dĩ tùy chi, hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị
vi nhi hung thần dĩ tùy chi. Nghĩa là: lòng người muốn làm việc lành tuy là việc
lành chưa làm mà đã có vị kiết-thần chứng-minh rồi đó. Hoặc lòng người mống khởi
làm việc dữ, mà việc dữ ấy chưa làm, thì đã có vị hung-thần chép biên rồi
đó....
Lại có câu: Nhứt nhựt hành
thiện, phước tuy vị chí họa tự viễn hỉ, nhứt nhựt hành ác, họa tuy vị chí phước
tự viễn hỉ. Một ngày làm lành phước tuy chưa đến, mà tai họa đã lánh xa, một
ngày làm dữ họa tai tuy chưa đến mà phước đã lánh xa.
Hai bài sách trên đây, là
nói sự báo ứng về cơ mầu-nhiệm. Mặc dầu con người tin hay là không, đến khi kết
cuộc thì sở hành thiện ác đều thấy rõ.
Sự lành thưởng dữ răn của
nhân-loại trên mặt địa-cầu nầy ví như:
Trong gia-đình có đặt quyền
của một ông cha cai-quản, khi mà ông cha nhứt định sẽ giao gia-nghiệp cho con
gìn-giữ thì tự nhiên ông chọn lựa trong bầy con, người nào trọn tâm hiếu-nghĩa
với cha mẹ, hòa-thuận với anh em, biết lo bồi-bổ mọi sự trong gia-đình, tánh
tình hiền-lương đạo-đức, thì ông cha mới giao sự sản đất vườn cho người ấy bảo
hộ. Chớ không bao giờ cha lại giao gia-nghiệp, chìa khóa tủ, bằng khoán đất cho
một đứa con bất hiếu ngổ nghịch bạo tàn, ấy là lẽ cố nhiên trong gia-đình như
thế.
Ðức CHÍ-TÔN là Cha cả, có
quyền năng chưởng-quản toàn thể nhơn-loại trên mặt địa-cầu nầy, thì ông cha
Thiêng-liêng muốn giao đại-nghiệp trong thế-giới cho một sắc dân nào cầm quyền
thống-nhứt về mặt vật-chất hay là tinh-thần, thì Ðại Từ-Phụ cũng chọn lựa một
dân-tộc nào, có trọn tâm hiếu hạnh, biết tôn trọng thành kỉnh Ðấng Cha lành và
có lòng đạo-đức nghĩa-nhơn, biết giữ luật-pháp công-bình chánh trực thì Ðức
Chí-Tôn mới giao phó cả đại-nghiệp trong vũ-trụ nầy, cho dân-tộc ấy giữ-gìn
cai-quản. Chẳng khi nào Ðức Chí-Tôn lấy giao sản-nghiệp vĩ đại trong hoàn-cầu
cho một sắc dân bất nghĩa vô nhơn bạo tàn hung ác, mà được cầm quyền bá chủ.
Trái lại dân-tộc ấy, đã
không đặng hưởng hồng-ân của Ðấng Cha lành ban cho, mà còn phải chịu luật
Thiên-điều trừng trị, ấy là lẽ công-bình của Ðức CHÍ-TÔN, lành thưởng dữ răn
hai đường đặc biệt.
THI
ÐỨC CHÍ-TÔN
Thiện ác đáo đầu đã biết
chưa,
Hiểu rồi cái ác cũng nên
chừa.
Theo làm âm-chất may bồi đấp,
Thì sẽ trở về chỗ vị xưa.
BÀI SỐ 18
PHƯỚC VÀ TỘI
Con người sanh ra trên mặt
thế nầy, hạn định bách tuế chi kỳ mà chưa từng thấy ai được sống đủ đầy trăm tuổi,
thiết tưởng trong thời kỳ chiến-tranh loạn-lạc, thì bất luận già trẻ cũng có thể
chết một cách dễ-dàng.
Vậy thì lẽ phải của con
người, nên làm những điều gì cho có phước đặng hưởng sự vui-vẻ tương lai, chẳng
nên làm việc chi phạm tội, rồi kết cuộc phải ăn-năn hối hận, dầu có kêu than
cũng đã muộn.
Nên nhớ câu sách Nho dạy rằng:
"Ô hô! Tam thốn khí tại thiên ban dụng, nhứt đáng vô thường vạn sự
hưu".
Than ôi! Ba tấc hơi còn
thì ngàn việc cần dùng tranh danh đoạt lợi, chẳng may đến buổi vô-thường muôn
việc đều thôi chỉ đem theo xuống chốn dạ đài có hai món phước và tội.
Trong Kinh Sám-Hối có câu:
Người lương thiện ra vào
thong-thả,
Kẻ tội nhiều đày đọa rất
minh.
Sở hành của con người làm
thế nào mà được phước, còn làm sao mà bị tội?
Tổng luận từ trong
gia-đình, xã-hội cho đến Tôn-giáo các khoản như sau:
1 - Trong gia-đình những
người con mà được hưởng phước của cha mẹ ban cho, thì người con ấy biết nghe lời
cha mẹ dạy bảo, hằng lo trông nom bồi-bổ mọi sự trong gia-đình, tức là người
con chí hiếu. Còn đứa con mà bị tội, là bất tùng giáo-hóa, không tuân lời cha mẹ
khuyên răn, phóng tâm du-đảng theo cờ bạc điếm-đàng, làm cho cha mẹ lắm nỗi thảm
sầu, thiên-hạ cười chê khinh bỉ, ấy là đứa con bất hiếu đã không được hưởng phần
hương hỏa, mà còn bị tội là con giặc trong gia-đình.
2 - Trong quốc-gia xã-hội
có văn thần, võ tướng, những vị nào được hưởng phước lộc của chánh-phủ ban cho,
thì vị quan ấy là bậc trung thành, dám hy-sinh với Tổ-quốc, gầy dựng cơ nghiệp
nước nhà, tạo hạnh-phúc cho giống nòi chung hưởng như thế mới có phước đức lưu
tồn.
Bổn phận làm dân trong nước
phải tuân theo luật-lệ của chánh-phủ, thật hành y theo lịnh của nhà cầm quyền
trong địa phương truyền dạy.
Sưu đi thuế đóng cho tròn
bổn-phận lương dân mới là có phước.
Còn làm dân mà bất tùng luật-pháp
quốc-gia, trốn xâu lậu thuế, gian tham trộm cướp không kiêng phép nước, thì phải
chịu tội tù ấy là lẽ tự nhiên cổ kim như thế.
Luận qua trong Tôn-giáo
Cao-Ðài, từ hàng phẩm Chức-Sắc Thiên-Phong cho tới Chức-việc và Ðạo-hữu nam nữ,
những người tận tâm trung thành vì Ðạo, thật hành y theo luật-pháp chơn-truyền,
trọn tuân Thánh-giáo của Ðức CHÍ-TÔN cùng các Ðấng Thiêng-Liêng chỉ dạy, biết
trọng mạng lịnh của Hội-Thánh ban hành, dầu gặp việc hi-sinh vì Ðạo cũng chẳng
thối chí ngã lòng, ấy là người trọn tâm phụng thờ Tôn-giáo.
Trên thuận với lòng Trời,
dưới nhơn-sanh đồng tín nhiệm, thì sẽ được hưởng phước của Ðức CHÍ-TÔN ban cho,
đạt thành phẩm vị Thiêng-liêng siêu thoát.
Còn những kẻ lợi dụng danh
Ðạo, tạo hạnh-phúc riêng về phần cá-nhân, thì mọi sự hành-động đều trái với luật-pháp
khuôn viên của Ðạo, làm nhiều việc bất nghĩa vô nhân, mưu sâu chước độc, phá Ðạo
hại người, phản loạn chơn-truyền bất tùng Thiên-lý, ấy là kẻ tội nhơn trong nền
Tôn-giáo, phải chịu luân-hồi chuyển kiếp trả quả tiền khiên, do theo lẽ
công-bình thưởng răn của Tạo-hóa.
Muốn biết phước và tội,
thì xem cả hành-vi của con người, bất luận làm những việc gì có lợi ích chung
cho đồng loại, được thiên-hạ kính mến ca tụng, do sở hành của mình mà mọi người
được hưởng nhờ ấy là phước.
Trái lại, làm điều chi mà
hại nhơn ích kỷ, sanh chúng bất bình, kêu ca thán oán, bởi việc làm của mình mà
thiên-hạ phải chịu thảm sầu đau khổ, ấy là kẻ đại tội trên thế gian.
Ngày nào nhơn sanh biết
tìm những việc có phước đức mà thật hành, tránh xa mọi điều tội ác, được như vậy
thì đời sẽ trở nên thuần-phong mỹ-tục, gia vô bế hộ, lộ bất thập di nhà không
đóng cửa, đường chẳng ai lượm của rơi, thiên-hạ cọng hưởng thái-bình, tức là phục
lại đời Thánh-đức.
BÀI SỐ 19
TU-HÀNH VÀ HỌC-HÀNH
Tu-hành và học-hành, ấy là
cái thể với cái dụng. Tu gõ mỏ tụng kinh niệm Phật là cái thể, cố tâm thật-hành
theo lời của Phật dạy trong kinh mới là sở-dụng.
Học, đọc sách viết vở làm
bài là cái thể, chỉ có thi hành theo lời dạy của Thánh-Hiền thì mới là hữu dụng.
Có câu: "Tụng kinh giả
minh Phật chi lý". Tụng kinh là cần hiểu rõ giáo-lý của Phật, mà làm y
theo mới có hiệu quả, chớ không phải tụng kinh niệm Phật lần chuổi mà đắc đạo.
Cũng như câu: "Nhứt
cú Di-Ðà vô biệt niệm, bất lao đàng chỉ đáo Tây-Phương". Nghĩa là một câu
lục tự Di-Ðà cứ niệm hoài, thì chẳng nhọc khảy móng tay cũng đến cảnh
Tây-Phương.
Câu nói mới nghe qua thì sự
hành đạo rất dễ, nhưng phải hiểu ý-nghĩa lục tự Di-Ðà là thế nào? Và thật-hành
theo cho châu đáo, thì mới mong mỏi về đến cảnh Tây-Phương.
Nói về Nho-Giáo thì có
câu: "Tạo chúc cầu minh, độc thơ cầu lý, minh dĩ chiếu ám thất, lý dĩ chiếu
nhơn tâm". Ðốt đèn đuốc để cầu ánh sáng, còn đọc sách để kiếm hiểu
chơn-lý, cái ánh sáng để rọi trong nhà tối, ý-nghĩa trong sách để soi vào lòng
người cho được thông-minh.
Ðức Khổng-Tử dạy rằng:
"Vi thiện tối lạc, Ðạo lý tối đại". Làm lành rất vui, đạo lý rất lớn,
thì người có học ai cũng biết như vậy, mà tại sao không chịu làm lành đặng hưởng
sự vui-vẻ, để làm những điều tàn bạo gian tham, mà phải bị các tội tình rồi
ăn-năn thảm sầu hối hận.
Ðã biết Ðạo-lý là rất trọng
mà chẳng chịu làm, để xu hướng theo điều bất nghĩa vô nhơn, có phải tại người
chỉ có tu có học bề ngoài, mà trong tâm không thật hành nên mới ra nông nổi.
Luận về Ðạo Cao-Ðài thì
toàn thể môn-đệ của Ðức CHÍ-TÔN, khi vào nơi Bửu-Ðiện đãnh lễ, trước hết tay bắt
ấn Tý để lên trán niệm: Nam-mô Phật, Nam-mô Pháp, Nam-mô Tăng, ấy là Tam-qui:
Qui-Y Phật, Qui-Y Pháp, Qui-Y Tăng, thì ta phải noi theo cả hành-vi của Phật, từ-bi
bác-ái, tế độ chúng sanh. Lại nữa phải trọn tuân theo luật-pháp chơn-truyền của
Ðạo và làm thế nào cho tròn bổn phận tín-đồ trong nền Ðạo-giáo, mới xứng đáng
là môn-đệ của Ðức CHÍ-TÔN.
Trong bài Khai Kinh của Ðức
Lữ-Tổ, ta nên chủ tâm ghi nhớ một câu:
"Trong Tam-giáo có lời khuyến dạy,
Gốc bởi lòng làm phải làm lành".
Ðã trải qua ba mươi năm trường, nếu toàn Ðạo nam nữ mà cố tâm thi-hành cho được vuông tròn một
câu đó, thì hiện nay Hòa-Viện không còn phân xử tội-tình của ai nữa. Bởi vì mỗi
người đã biết làm phải làm
lành, thì có điều chi mà phạm vào luật Ðạo, được như vậy mới tròn bổn-phận người tu-hành đạo-đức.
BÀI SỐ 20
TRIẾT-LÝ CHỮ TÂM
Tâm là vi chủ tất cả châu
thân của con người, nên hư phải trái đều do nơi tâm chủ trương sở định.
Làm người biết chú trọng
lương-tâm, tức là biết kỉnh thờ Trời. Có câu: "Tồn tâm dưỡng tánh sở dĩ
chi sự Thiên", gìn-giữ bổn tâm chơn tánh cho chẳng phóng túng mà làm các
điều sái quấy, mới gọi là biết thờ Trời vậy.
Trời chẳng phải cao, mà
cũng chẳng phải xa, chính thiệt ở nơi lòng người, lòng người có tín-ngưỡng thì
Trời Ðất ắt biết đó.
"Phi cao diệc phi viễn
đô chỉ tại nhơn tâm, nhơn tâm sanh nhứt niệm Thiên Ðịa tất giai tri".
Vậy con người chẳng nên
khinh dễ bản tâm, mà phải đắc tội với Trời.
Có câu: "Khi kỳ tâm tất
tự khi kỳ Thiên, Thiên bất khả khi hồ".
Người tu-hành đắc đạo cùng
chăng, là do nơi tâm biết giác ngộ thì được siêu-thoát, con tâm mờ-hồ si-mê thì
phải chịu luân-hồi chuyển kiếp.
Có câu: "Vạn sự do
tâm tạo". Muốn việc chi thảy đều có kết-quả, là tại sự tư-tưởng của
lương-tâm. Hễ tâm tư-tưởng việc chánh đáng công-bình, thì thân thể đặng
thung-dung nhàn lạc, tức là Bồng-Ðảo Niết-Bàn tại thế. Còn tâm vọng động những
điều vô-nghĩa vô-nhân gian ác bạo tàn, thì thân thể phải chịu mọi điều thảm khổ.
Cho nên con người cần phải biết kỉnh trọng linh-tâm, nhứt là làm những việc gì,
trước khi khởi sự thực-hành ta nên trầm tỉnh xét suy cho đáo để và phải nhớ hỏi
lại chủ-nhơn Ông (tức là linh-tâm) thì mọi sự phải trái thiệt hư tâm đều chỉ
rõ....
Trong Tam-giáo: Nho,
Thích, Ðạo dạy phép tịnh luyện cũng dùng chữ Tâm.
Ðức Khổng-Tử dạy tồn tâm,
yếu-dụng hai chữ trung-thứ. Ðức Thích-Ca dạy minh tâm, thiệt hành hai chữ từ-bi.
Ðức Thái-Thượng dạy tu tâm, chú trọng hai chữ cảm-ứng. Bởi sáu chữ: Trung-thứ,
Từ-bi, Cảm-Ứng đều có trùng tâm. Chữ tâm là: "Tam điểm như tinh tượng,
hoành câu tợ nguyệt tà, phi mao tùng thủ đắc tố Phật giã do tha". Ba chấm
như tượng hình sao, giòng ngang giống như trăng xiên, dỡ lông theo ấy đặng
thành Phật cũng bởi tâm mà nên.
"Dục tu kỳ thân giả,
tiên chánh kỳ tâm". Muốn tu thân cho nên người hiền-lương đạo-đức, thì trước
phải sửa lòng cho được ngay thẳng "Tương tâm tỉ tâm tiện thị Phật
tâm". Ðem cái lòng của mình mà sánh với cái lòng của người ấy là cái lòng
nhơn từ, cũng như lòng Phật vậy.
Làm người mà biết bảo thủ
lương-tâm, thì mới đủ tư-cách làm người cao thượng, đời trở nên tận thiện.
Còn người tu-hành mà biết
trau-giồi tâm đức cho được kiên cố vững bền, thì mới đặng thành-công đắc đạo.
THÁNH-GIÁO
ÐỨC CHÍ-TÔN
Bạch-Ngọc từ xưa đã ngự rồi,
Chẳng cần hạ giới vọng cao
ngôi.
Sang hèn trối kệ tâm là quí,
Tâm ấy tòa sen của Lão ngồi.
Tâm ấy là Trời chớ dễ tâm,
Phải trau cho sạch điểm lương-tâm.
Ngôi Trời tâm ấy là nơi dựa,
Mình biết tâm, tâm mới biết
tâm.
Ðạo cao thâm, Ðạo cao
thâm,
Cao bất cao, thâm bất
thâm.
Cao khả xạ hề thâm khả điếu,
Cao thâm vạn sự tại nhơn
tâm.
Tâm an mao ốc ổn,
Tánh định thể căng hương.
BÀI SỐ 21
DIỆT TẬN PHÀM-TÂM
Giáo-lý của nhà Phật, cần yếu là diệt tận phàm tâm tham, sân, si. Người tu hành đạo-đức mà còn tích trữ lòng tham,
thì không khi nào siêu phàm đạt Ðạo.
Bổn-phận của người tu là xả thân cầu đạo, xả phú
cầu bần, chưa từng thấy một vị Phật nào mà còn tham lam của thế-gian. Người đời vì tham quyền lợi mà giết hại lẫn nhau, gây thù kết oán
cũng vì tham....
Sân là giận hờn gây-gổ cải-cọ, tánh tình nhỏ mọn, thắc-mắc khó khăn, độ-lượng
hẹp hòi, thiếu lòng từ-bi bác-ái thì mất đức-hạnh người tu, tự nhiên phải lánh
xa cửa Phật.
Con người vì tánh sân mà xảy ra lắm điều oan-nghiệt có khi dứt tình thân-ái nghĩa-nhơn cũng vì sân.
Si là mê-tín dị đoan, đụng đâu nghe đó, không phân biệt đường chánh lẽ tà,
nên phải lầm vào Bàn-môn Tả-đạo không thoát khỏi bến mê.
Ðạo-đức tinh thần là phương thức tỉnh nhơn-sanh,
người tu-hành mà không phát huệ-tâm, thì cũng khó mong thành chánh quả.
Giáo-lý của nhà Phật, thì người tu cần phải diệt tận
phàm tâm, tức là trừ bỏ tánh tham, sân, si, thì mới có thể siêu phàm đắc đạo.
"Nhơn dục tịnh tận, Thiên-lý lưu hành". Lòng dục vọng
của con người lặng-lẽ, thì đường Thiên-lý phát khởi quang minh.
Con người giữ được
Thánh-tâm cho thanh tịnh mới rõ biết đường Thiên-lý, thì phàm-tâm nhơn dục
không nảy sanh. "Tịnh tịnh thường lạc cố viết Niết-Bàn". Thánh-tâm
thanh tịnh an vui, thì gọi là cảnh Niết-Bàn Cực-Lạc.
BÀI SỐ 22
GIẢI-THÍCH TAM-CANG
NGŨ-THƯỜNG
Tam-Cang Ngũ-Thường tức là
điều-mục của Nho-giáo, lại là một vai tuồng đặc biệt của nam nhân, cần phải thật
hành cho vẹn toàn bổn-phận.
Tam-Cang là: Quân-thần, Phụ-tử,
Phu-phụ. Vua tôi, cha con, chồng vợ; Chúa ở với tôi có đạo-đức, thì tôi thờ
chúa mới tận kỳ trung; Cha ở với con từ-thiện, thì con thờ cha chí hiếu; Chồng
giữ trọn nghĩa với vợ, thì vợ phải thủ tiết thờ chồng ấy là Tam-cang tức là đời
có Ðạo.
Còn đời thất chánh vô nhơn
đạo, thì phong-hóa suy tồi nhân tâm bất cổ, đạo-đức sai dời lòng người chẳng giống
xưa. Luật Tam-cang chẳng giữ, phép Ngũ-thường không noi, Vua vô đạo, tôi bất
trung, cha chẳng lành con chẳng thảo, chồng không giữ nghĩa với vợ, vợ lại thất
tiết với chồng. Anh em không thuận hòa, xóm riềng chẳng có tình thương-yêu
liên-lạc cùng nhau, luân-lý cang thường đều nghiêng đổ, tức là đời Hạ-nguơn cuối
cùng mạt kiếp.
Ngũ-thường là: Nhơn,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
1 - NHƠN là trắc ẩn chi
tâm, ái vật chi lý, bất sát bất hại thể háo sanh chi đại-đức. Lấy lòng nhơn
phóng xá cho loài vật, đặng phần sống sanh hóa như loài người, mới có lòng từ-bi
bác-ái gọi là nhơn....
Chữ nhơn là nhân đứng bằng
chữ nhị, nhân là người, nhị là hai. Làm người phải giữ cho đặng trọn hai phần,
một là đối với Trời Ðất, thì phải noi theo phép công-bình thiêng-liêng của Tạo-hóa,
thuận tùng Thiên-lý. Hai là đối với người, vật, thì phải giữ lòng đạo-đức,
thương người mến vật, trợ cấp phò nguy mới trọn lòng nhơn ...
Theo Thánh-giáo của Ðức
CHÍ-TÔN:
Nhơn là đầu hết các hành
tàng,
Cũng bởi vì nhơn dân hóa
quan.
Dân trí có nhơn nhà nước
trị,
Nước nhà nhơn thiệt một
cơ-quan.
Tu nhơn thì thành Thần; niệm
nhơn thì thành Thánh; hành nhơn thì thành Tiên; đắc nhơn thành Phật
2 - NGHĨA là Nhứt thảo nhứt
mộc, các hữu kỳ chủ, cả thảy mọi vật đều có chủ, cấm chẳng đặng gian tham ham
muốn của người, mà làm cho thất nghĩa.
Chữ nghĩa là toàn ngã hiệp
thành, chữ toàn là trọn, chữ ngã là ta, hiệp lại thành chữ nghĩa, làm người giữ
trọn cùng ta thì nên nghĩa, còn chẳng trọn cùng ta là thất nghĩa. Muốn thật
hành chữ nghĩa, thì phải noi theo câu: "Kỷ sở bất dục vật thi ư
nhơn". Những việc gì ta chẳng muốn ai làm cho ta chịu đau khổ thảm sầu thì
ta không nên đem các điều ấy mà làm cho người khác, mới là trọn nghĩa.
Chữ nghĩa bao hàm rất lớn
thay. Như là nghĩa cha con, nghĩa thầy trò, nghĩa chồng vợ, nghĩa anh em cốt nhục
đồng-bào, nghĩa bằng hữu chi giao, ấy là ngũ-luân chi đạo. Mọi sự đều phải có
nghĩa, thì mới đủ tư-cách làm người cao trọng.
Chữ nhơn và chữ nghĩa thường
đi đôi với nhau, cho nên trong Kinh Sám Hối có hai câu dạy rằng:
Làm người nhơn-nghĩa xử
xong,
Rủi cho gặp lúc long-đong
chẳng sờn.
Làm người nhơn-nghĩa giữ
tròn,
Muôn năm bóng khuất tiếng
còn bay xa.
Xem trong truyện sử đời
nhà Châu, vua Võ điếu dân phạt Trụ, dĩ danh Nhơn-Nghĩa, mà thâu phục cả tâm-lý
của tám trăm chư-hầu qui thuận nhà Châu cho đến các bậc Tiên-gia Xiển-giáo,
cũng đồng ủng hộ Võ-Vương, thuận thọ thiên-mạng diệt giả phò chơn, thì rõ biết
cái năng lực danh-từ nhơn-nghĩa tinh-vi hiệu quả là thế nào.
Hiện nay ta muốn biết trước
những người cầm quyền bĩnh cán trong một nước nào, có thể lập thành sự-nghiệp
phục hưng quốc-thể được trường tồn, hay là làm cho dân tâm ly tán, vận nước
khuynh nguy, thì chỉ xem sở hành của vị ấy có nhơn-nghĩa hay không mà quyết
đoán ...
3 - LỄ là yết dục dưỡng
tinh, cấm không đặng tà tình hoa nguyệt, làm cho hao tổn nguơn-tinh biến ra thất
lễ. Lễ là khuôn viên trọng thể của con người, làm người sở dĩ linh hơn muôn vật,
chỉ nhờ biết giữ lễ mà đặng phần tôn quí hơn. Nhơn sanh vạn-vật tối linh, lễ giả
Thiên Ðịa chi tự giả.
Qui cũ chữ lễ là để chế sửa
phong-tục, nhân quần xã-hội, quan hôn, tang tế, Triều-đình Hương-đảng, cả thảy
đều dùng lễ mà làm cho đời được tận thiện tận mỹ.
Lễ là thiết yếu để giữ chừng
mực cho mọi sự hành-vi của con người.... Con người có thể sống cao thượng, phẩm
giá được tôn quí là do nơi biết giữ lễ, còn bị tội lỗi làm mất tư-cách con người,
thiên-hạ chê bai khinh bỉ nhục-nhã, là do nơi thất lễ.
Chữ lễ rộng lớn bao la,
xem bài giải-thích về Kinh Lễ mới rõ biết.
4 - TRÍ là tồn tâm dưỡng
tánh, chẳng nên dùng tửu nhục ẩm thực quá độ, rối loạn trí não tâm thần, hoại
hư tạng-phủ biến ra người mất trí.
Chữ trí là tri trên bạch
dưới, chữ tri là biết, chữ bạch là trắng, làm người phải biết giữ lòng thanh bạch,
chẳng cho nhiễm vào một điểm nhơ ố vạy tà, mới gọi là hạng người trí-thức....
"Trí giã nhạo thủy".
Bậc trí-thức tánh lưu thông như nước, mọi sự đều rõ biết, cư xử việc gì cũng được
phân-minh, chẳng khi nào phạm vào luật-pháp.
5 - Chữ TÍN là bằng hữu chỉ
ư tín, thỉ chung như nhứt trước sau như một, không thay lòng đổi dạ, dầu hứa hẹn
một việc nhỏ cũng chẳng sai lời, mới gọi là người chơn-chất biết thủ tín.
Chữ TÍN là nhơn bằng chữ
ngôn, nhơn là người ngôn là lời nói. Làm người mọi điều thốt ra, phải giữ sự
chơn thật thì mới đủ lòng tín-nhiệm của quần chúng, nếu việc không mà nói có,
việc có lại nói không, thì chẳng còn ai tín-dụng. Người ở đời mà thất tín thì
chẳng làm gì nên danh phận. Nên có câu: "Nhơn vô tín như xa vô luân".
Người mà không thành tín thì cũng như chiếc xe không có bánh, chẳng hề cử-động
được nữa.
Lại có câu: "Nhơn vô
tín bất lập". Người không giữ tròn câu tín nghĩa thì chẳng lập nên danh-thể
trường tồn, mà cũng không đứng vững trên mặt thế.
Vấn-đề Tam-cang Ngũ-thường,
tức là nền tảng của Nho-Tông, thuộc về phần Nhơn-đạo để giáo-hóa nhơn sanh cho
đủ tư-cách làm người cao thượng, nếu mỗi người thật hành y theo qui-điều kể
trên cho châu đáo, thì đời sẽ được mỹ-tục thuần-phong, tức là đời thái-bình
an-cư lạc-nghiệp.
Ðiều-mục của Khổng-giáo
cũng như qui-giới của Phật-giáo, Tiên-giáo. Ngũ-thường, ngũ-giới, ngũ-hành kỳ
trung hiệp đồng nhứt lý....
Ðệ-tử nhà Phật, nhà Tiên
muốn đi tới Bồng-Ðảo, Niết-Bàn thì tức nhiên phải đi qua đò nhà Nho trước.
Phật, Ðạo cũng như hành bộ
khách, nền Nho ví tợ chiếc đò qua.... Ấy là: "Dục tu Tiên-đạo, tiên tu
Nhơn-đạo, Nhơn-đạo bất tu, Tiên-đạo viễn hỉ"....
Luận về đạo-lý rất quảng đại
bao la, không thể giải cho cùng tận, chỉ do theo trình-độ của mọi người, hiểu
biết đặng bao nhiêu lược biến ra để làm phương-châm thật-hành cho được vẹn
toàn, cũng là điều bổ ích.
BÀI SỐ 23
CHÁNH-TRỊ CỦA KHỔNG-GIÁO
Chánh-trị của Khổng-giáo cốt
yếu là dùng người có tài có đức để cầm quyền hành-chánh giúp nước trị dân.
Ðức Khổng-Tử nói:
"Nhơn-đạo chánh vi đại". Ðạo của người thì chánh-trị là lớn, dùng đạo
nhân làm gốc, lấy hiếu đễ lễ nhạc làm căn-bản trong sự giáo-hóa, để lập thành nền
đạo-đức, nhơn-nghĩa, lấy chánh-trị mà làm công-dụng, thi thố cho ra đời trở nên
thuần-phong mỹ-tục.
Cái quan-niệm của
Nho-giáo, về đường chánh-trị trong một nước thạnh, suy, bĩ, thới đều do nơi người
cầm quyền hành-chánh, người hành-chánh có đủ tài đức, thì trong nước được
thái-bình, dân an cư lạc nghiệp.
Còn người hành-chánh mà
thiếu đạo-đức, nhơn-nghĩa thì nước phải loạn-lạc suy tồi, nhơn tâm ly tán. Mặc
dầu cái chánh-thể hay, mà người cầm quyền dở thì không ích lợi cho nước, mà còn
làm hại quốc-gia là khác.
Ðức Khổng-Tử nói:
"Văn Vũ chi chánh bố tại phương sách, kỳ nhân tồn tắc kỳ chánh cử, kỳ nhân
vong tắc kỳ chánh tức". Nghĩa là: Việc chánh-trị của vua Văn, vua Vũ bày
ra ở trong sách, nếu có người biết noi theo vua Văn, vua Vũ thì nền chánh-trị ấy
được thi thố ra rất hay, bằng chẳng có người noi theo phương sách của vua Văn,
vua Vũ, thì cái chánh-trị tự nhiên phải hư hỏng. Vậy nền chánh-trị trong nước
hay dở, cốt ở người cầm quyền hành-chánh. Những người cầm quyền bao giờ cũng phải
kính cẩn, hằng lo sửa mình cho ngay thẳng, lấy đạo-đức để cảm hóa dân, và dùng
người hiền cất lên làm quan để chung lo việc nước, không ứng nạp những kẻ
gian-tham ấy là nền chánh-trị của Khổng-giáo lập thành trường tồn kiên cố.
Chánh-trị là việc trọng yếu
của một nước, người có trách-nhậm cai trị dân, cần phải lấy sự kinh-nghiệm mà
làm phương-pháp thật hành, phải xem xét cái Ðạo của Thánh-Hiền đời trước là thế
nào, rồi mới quyết-định sửa đổi mọi việc cho được hoàn-toàn.
Bởi các bậc Thánh-Hiền là
Ðấng thông-minh, đã hiểu rõ về đường Thiên-lý, và đạt được nhân sự, biết dùng
điều nhơn-nghĩa, lễ, trí, mà làm phép trị dân trị nước đặng hòa-bình. Những
công việc của các bậc Thánh-Hiền tích lũy đã lâu đời và kinh-nghiệm rất châu
đáo, có ích lợi cho nước cho dân, lại được thuận tùng Thiên-lý, phù hạp nhơn
tâm, tức là nền chánh-trị vững-vàng trường-cửu.
Ðức Khổng-Tử dạy: Chánh-trị
là làm mọi việc ngay thẳng lấy sự công-bình chánh-trực mà khiến người, thì ai
dám làm những điều vạy tà sái quấy. Hễ người trên đã ngay thẳng thì kẻ dưới ắt
phải noi theo. Có câu:
"Kỳ thân chánh bất lịnh
nhi hành,
Kỳ thân bất chánh tuy lịnh
bất tòng".
Mình làm việc ngay thẳng
thì chẳng sai khiến người ta cũng làm, còn mình không được ngay thẳng, thì dầu
có bắt buộc cũng chẳng ai tuân theo.
"Chánh kỷ dĩ giáo dân
giả thuận, thích kỷ dĩ giáo nhân giả nghịch". Tự lập mình cho chánh đáng,
rồi mới dạy người ta là thuận chơn-lý, còn mình dung-túng sự sái quấy của mình
mà dạy người ta làm phải là trái ngược.
Luận qua chánh-trị hà khắc
bạo tàn, trong một nước dầu có oai-quyền thế lực hùng cường, mà thiếu phần đạo-đức
nhơn-nghĩa, thì chẳng bao giờ vững bền tồn-tại. Mạnh-mẽ như Tần Thỉ-Hoàng, gồm
thâu lục-quốc khanh sĩ phần thơ, kết cuộc cũng vì thiếu đạo-đức, mà phải mất nước
tiêu nhà hại mạng, truyện sử còn ghi chép đến ngày nay, thiên-hạ phê bình vua Tần
là bạo ngược.
Sở Bá-Vương Hạng-Võ cũng
oai-quyền ám-á sất sá chúng dân đều kinh khủng, đến khi thế cùng lực tận phải
đành tự-vẫn nơi Ô-Giang, là bởi không thiệt hành nghĩa-nhơn đạo-đức.
Ông Lưu-Bang tức là Hớn
Bái-Công, thuận thọ thiên-mạng tuy là nhu-nhược "Dĩ đức phục nhơn, tam
phân thiên-hạ đoạt kỳ nhị". Cơ nghiệp nhà Hớn thuộc về Hớn Bái-Công, ấy là
nhu thắng cang nhược thắng cường, sách xưa chẳng lầm đó vậy.
Tóm lại đường lối chánh-trị
của Khổng-giáo thì người cầm quyền trong nước, phải dùng đạo-đức để cảm hóa
chúng dân, phải giữ phép công-bình chánh-trực, trong sự thưởng phạt cho được
phân minh. Cần yếu là tạo hạnh-phúc cho quốc-dân chung hưởng. Mọi sự hành-vi
trên thuận tùng Thiên-lý dưới phù hạp nhơn tâm, thì vạn sự tổng giai thành, ấy
là nền chánh-trị đại-đồng thế-giới.
Ngày nào những người cầm
quyền trong các nước mà biết noi theo phương sách của vua Văn, vua Vũ và thật
hành theo nền chánh-trị của Khổng-giáo cho ra chơn tướng, thì đời mới phục lại
thái-bình, dân an-cư lạc-nghiệp, tức là cơ bảo tồn qui thượng-cổ.
BÀI SỐ 24
CHÁNH-DANH ÐỊNH-PHẬN
DĨ ÐỨC GIÁO DÂN
Chánh-trị của Khổng-giáo
là dùng đạo-đức để cảm hóa dân, lấy nhân chánh làm phép trị bình thiên-hạ....
Một hôm Thầy Tử-Lộ hỏi Ðức
Phu-Tử: Giả như vua nước Vệ cậy Thầy sửa việc chánh-trị, thì Thầy định làm việc
gì trước?
Ðức Khổng Phu-Tử trả lời rằng:
Tất giả chánh danh hồ, ắt
phải sửa cái danh cho chánh vậy. Hễ cái danh được chánh thì ngôn thuận tự nhiên
mọi sự đều nên.
Ðức Khổng-Tử nói: Danh bất
chánh tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc vạn sự bất thành....
Danh-từ đã chánh thì làm
việc gì đều có nghĩa lý rõ rệt, còn danh phận đã định thì địa-vị của mỗi người,
trên dưới có trật-tự quyền hành trách-nhậm phân minh, trên lấy lễ mà sai khiến
dưới, dưới lấy lòng trung mà thật hành phận sự, thì trong nước lo chi không được
thạnh-trị.
Ðức Khổng-Tử nói: Vi chánh
dĩ đức thí như Bắc-Thần cư kỳ sở, nhi chúng tinh củng chi. Làm việc chánh dùng
lấy đức ví như sao Bắc-Thần đứng một chỗ, mà các vì sao khác đều qui chầu tất cả.
Có câu: Quân-tử chi đức phong, tiểu-nhân chi đức thảo, thảo thượng chi phong tất
yển. Cái đức của người quân-tử cũng như gió, cái đức của kẻ tiểu-nhân cũng như
cỏ. Gió thổi trên cỏ thì cỏ phải lướt xuống mà theo. Ðây là nói những bậc cầm
quyền trị dân, phải giữ đạo-đức thì dân tự nhiên trọn tuân mạng lịnh.
Việc chánh-trị có ba điều
trọng yếu:
Thâu phục cho được phần đa
số dân,
Làm thế nào cho dân giàu
có,
Dạy dân cho biết lễ nghĩa.
Việc trị dân trong nước là
phải lo cho dân được no ấm, nước có đủ người tài đức cầm quyền hành-chánh, làm
cho toàn thể chúng dân trong nước đủ lòng tin cậy, thì mới đủ năng-lực làm cho
nước vững bền trường-cửu.
Người quân-tử làm việc
chánh-trị phải có tài có đức cho xứng-đáng mới làm được hữu ích cho quốc-gia, nếu
tự lượng tài đức của mình không đủ, thì chớ quá tham lam ...
Ðức Khổng-Tử nói: Ðức bạc
nhi vị tôn, trí tiểu nhi mưu đại, lực tiểu nhi nhiệm trọng, tiểu bất cập hỉ.
Nghĩa là: Ðức mỏng mà ngôi cao, trí nhỏ mà làm việc lớn, sức yếu mà gánh việc nặng,
thì ít khi thành công vậy.
Mạnh-Tử viết: Tam-đại chi
đắc thiên-hạ giả dĩ nhân, kỳ thất thiên-hạ giả dĩ bất nhân.
Thầy Mạnh-Tử nói: Ðời
Tam-đại sở dĩ được thiên-hạ là vì làm điều nhân, sở dĩ mất thiên-hạ là tại làm
điều bất nhân. Tam-đại là: Nhà Hạ, nhà Thương, nhà Châu. Vua Vũ, vua Thang, vua
Văn, vua Võ làm điều nhân mà được thiên-hạ.
Vua Kiệt, vua Trụ, vua U,
vua Lệ, làm điều bất nhân mà mất thiên-hạ.
Xem như lời Thánh-Hiền đã
nói, thì sự đắc thất là do sở-hành của người cầm quyền nhân và bất nhân.
Những người cầm quyền
trong nước mà có đạo-đức nhơn-nghĩa đủ đầy, thật hành theo đường chánh-trị của
Khổng-giáo cho được hoàn-toàn, trên thuận tùng thiên-lý, dưới phục đắc nhơn
tâm, thì nước nhà sẽ được thái-bình, chúng dân cọng hưởng mọi điều hạnh-phúc.
BÀI SỐ 25
CHÁNH-TRỊ TRONG NƯỚC
cần phải có đạo-đức hay
không?
Từ cổ chí kim nền chánh-trị
trong một nước nào, những người cầm quyền trị dân có đạo-đức, biết giữ luật
công-bình thiêng-liêng của Tạo-hóa, thì nước ấy mới được trường tồn, lê dân
chung hưởng mọi điều hạnh-phúc.
Nếu người cầm quyền
chánh-trị, mà không lấy đạo-đức để cảm hóa dân, thì trong nước ắt phải suy tồi
loạn-lạc.
Có câu: Bang hữu đạo tắc
trí, bang vô đạo tắc nguy. Nước nhà có đạo-đức hiền lành, dân mới mở mang trí
hóa cao thượng, còn nước không có đạo, thì dân tranh cạnh hiếp đáp giết hại lẫn
nhau, ắt phải nguy vong đại biến.
Nước có Ðạo dân an quốc thới,
Nước không Ðạo dân tán quốc
khuynh.
Ðạo là hồn của nước vậy.
Con người có linh-hồn thì
đặng khôn ngoan tỉnh táo trí-huệ minh-mẫn cao-siêu, còn người mà không có
linh-hồn thì ảnh hưởng lu-lờ, tinh-thần tối-tăm bạc nhược....
Xem trong truyện sử đời
xưa, các bậc Ðế-Vương hằng lo sửa mình cho được chơn-chánh, cố tạo hạnh-phúc
cho quốc dân và do theo nguyện-vọng của dân mà định vận-mạng chánh thể trong nước,
hễ thuận lòng dân thì tự nhiên phù-hạp với lòng Trời.
Nhơn tâm tức thị Thiên
tâm.
Xem như đời Thành-Thang,
vua Ðế-Ất, thiệt hành đạo-đức nghĩa nhơn, bá tánh được thái-bình an-cư lạc-nghiệp,
ấy là nhờ ông Vua có lòng từ-bi quảng-đại biết thương người mến vật, ố sát háo
sanh. Ðến khi Ngài đi săn bắn với bá quan, giăng lưới chỉ dùng có một mặt, thì
đủ biết ông Vua nhơn đức là thế nào? Vì vậy mới truyền ngôi đến sáu trăm năm.
Trải qua đời Ân-Thọ là Trụ-Vương,
hành tàng vô đạo giết vợ chém con, sát hại các quan trung-thần, lại ưa thích những
kẻ gian tà sủng nịnh. Cho nên cơ Trời dứt nghiệp Thành-Thang. Chúa Thánh Tây-Kỳ
ra đời hưng Châu diệt Trụ. Bởi nhà Thương chánh-trị bạo tàn, vì thiếu phần đạo-đức
mà phải mất nước tiêu nhà hại mạng.
Châu Võ-Vương thuận tùng
Thiên-lý, dĩ đức phục nhơn, gồm thâu bá tánh, lập thành quốc-thể, lập hạnh-phúc
cho lương dân, ấy là nền chánh-trị đủ đầy đạo nghĩa. Cho nên nhà Châu lưu truyền
đến tám trăm năm, thật là cơ-nghiệp vững bền trường-cửu.
Có câu: Quốc chánh thiên
tâm thuận, quan thanh dân tự an. Nghĩa là người cầm quyền trong nước, giữ được
chánh tâm thì mới thuận với lòng Trời, còn làm quan biết giá-trị thanh liêm,
thì dân chúng được an-nhàn tự-toại.
Trái lại, người cầm quyền
trị dân, không giữ phép công-bình, chẳng noi theo đường đạo-đức, lại dùng quyền
chuyên-chế hà khắc lương dân, gian tham tư lợi chẳng kiêng luật Thiên-điều, làm
cho lòng dân thán oán, thì vận mạng trong nước ắt phải nguy vong.
Ðức Khổng-Tử dạy chư môn-đệ
của Ngài ghi nhớ một câu rằng:
Hà chánh mãnh ư hổ.
Chúng dân đã ghê sợ cái
chánh-trị hà khắc còn hơn là sợ cọp....
Một cường-quốc có thế lực
quyền hành, mà không lấy đạo-đức làm nền tảng, thì nước ấy sẽ bị tiêu-diệt.
Còn nước nào muốn cho nền
móng chánh-trị được kiên cố vững-vàng thì người cầm quyền trong nước phải noi
theo đường đạo-đức nghĩa nhơn, thì tự nhiên nước nhà mới được thạnh hành trường
tồn vĩnh-viễn.
BÀI SỐ 26
CHÁNH-TRỊ KHỔNG-GIÁO
cần phải có đạo-đức
Từ xưa đến nay, nước nhà
được thạnh-trị, hay là loạn-lạc suy tồi, đều do nơi người cầm quyền hành-chánh.
Người cầm quyền biết giữ theo đường ngay lẽ phải, thuận thọ Thiên-mạng, biết lấy
nhơn-nghĩa để cảm hóa dân, thì nước nhà được thái-bình, chúng dân đặng âu-ca lạc-nghiệp.
Còn người cầm quyền không
noi theo đường đạo-đức mà sửa trị, lại chẳng biết thương dân, thì nước nhà ắt
phải chinh nghiêng rối loạn.
Bởi dân tâm tức là
Thiên-ý, làm trái lòng dân ấy là nghịch mạng Trời, mà hễ nghịch mạng Trời thì tự
nhiên sẽ đi vào lối diệt vong đó vậy.
Trong Kinh Thơ có câu rằng:
"Hoàng thiên bất
thân, duy đức thị phụ, dân tâm vô thường, duy huệ chi hoài".
"Vi thiện bất đồng, đồng
qui vu trị, vi ác bất đồng, đồng qui vu loạn".
Nghĩa là: Trời chẳng thân
riêng ai, chỉ người có đức thì được Trời trợ giúp, lòng dân không có thường, chỉ
có người thi ân-huệ thì được dân cảm mến.
Làm việc lành chẳng giống
nhau, nhưng kết-quả là bình trị, làm việc dữ cũng không giống nhau, nhưng kết-quả
là đảo-điên loạn-lạc.
Ðức Khổng-Tử cho đạo nhân
là gốc của việc chánh-trị, cũng như đất tốt là gốc của sự sanh-sản ra cây trái
thạnh mậu tốt tươi. Vì vậy người hành-chánh dầu có tài mà thiếu đạo-đức, thì
cũng không định quốc an dân cho được.
Huống chi người cầm quyền
bỉnh cán trong một nước, dầu là Vua nước quân-chủ, hay là Tổng-Thống nước Cộng-hòa
dân-chủ, cũng đều có ảnh-hưởng chịu mạng Trời, ấy là thể thiên hành hóa. Cái
quyền hành ấy có quan-hệ đến vận-mạng của một xã-hội, một dân-tộc, vì vậy nên
trị dân phải biết thương dân và do theo lòng dân mà thật-hành cho tròn sứ mạng.
Lại nữa, những người đem
thân ra phụng-sự cho quốc-gia, thì thân của mình là thuộc về của quốc-gia, và của
chung của thiên-hạ, cái thân ấy không còn riêng về gia-đình nữa, vậy phải trọng
sứ-mạng của mình là thiêng-liêng, coi thân của mình nhẹ hơn hạnh-phúc của
nhơn-sanh, chính là con đường dìu người hành-chánh đi đến mức thành-công. Ðược
như vậy thì người cầm quyền đối với dân cũng như cha đối với con. Phải lo tu
nhơn tích đức cho dân được an-cư, dạy dân cho được khôn ngoan sáng-suốt, y như
cha lo cho con vậy.
Trái lại, làm những điều của
dân ghét bỏ, và ghét những điều của dân yêu chuộng, hoặc là ham muốn xa-hoa, lo
cho thân của mình được giàu sang vui sướng, ngoài ra mặc kệ dân khốn-khổ lầm
than, ấy là hành-động trái với lòng dân, thì người cầm quyền dầu có tài ba lỗi-lạc
cũng không tránh khỏi đi đến con đường thất bại.
Lẽ dĩ-nhiên là trị dân mà
chẳng làm cho dân mến yêu tin cậy, hành-động trái ngược khiến cho trăm họ đổi
lòng tùng phục mà trở lại oán ghét nghịch thù, thì người cầm quyền sẽ đem tai họa
cho mình và cho nước.
Những Ðấng Minh-Quân đời
trước, thương dân như con đỏ, hằng chịu lao tâm tiêu tứ, để lo gầy tạo hạnh-phúc
cho dân. Người trong nước không kể sang hèn, hễ ai có tài có đức, thì đưọc cất
nhắc lên làm quan giúp nước trị dân. Vua với quan đều lấy sự ích nước lợi dân
mà làm chủ đích.
Trên thân dưới như tay
chơn đối với lòng dạ, dưới thân trên như con trẻ đối với mẹ lành, vì sự thương
yêu lẫn nhau mà mối nước được vững bền, muôn dân âu-ca lạc-nghiệp.
Kết-luận, người cầm quyền
chánh-trị cần phải có đạo-đức, nếu không thật-hành theo đạo-đức, thì tức nhiên
là chánh-trị hà khắc bạo tàn, làm cho lòng dân ly tán vận nước khuynh nguy, dầu
có lập hình-pháp nghiêm trị thế nào, cũng không khắc phục được lòng dân.
Ðời nay văn-minh tấn bộ, nền
văn-hóa mới lan tràn trong nước, dường như phe tân-học quá thuyên về đường vật-chất,
nên phần nhiều người cầm giềng mối chánh-trị, chỉ biết quyền-hành chớ không muốn
biết đến nghĩa-nhơn đạo-đức.
Giữa xã-hội người ta thấy
bao nhiêu sự bất-bình bực tức, mạnh lấn yếu, chúng hiếp cô, vì lẽ thế lực kim
tiền được tôn thờ sùng kính.
Cái khổ của dân vì đó càng
ngày chồng-chất thêm mãi, mà chẳng biết kêu ca vào đâu, phải cam chịu phận thiệt-thòi
mãn kiếp.
Cái thuyết cao-siêu của Ðức
Mạnh-Tử là: "Dân vi quí, xã-tắc thứ chi, quân vi khinh". Ngày nào mà
thuyết ấy được thật-hành trên mặt địa-cầu nầy, thì thế-giới sẽ đặng hòa-bình đại-đồng
nhơn-loại.
BÀI SỐ 27
LUẬT THƯƠNG-YÊU, QUYỀN
CÔNG-CHÁNH
Ðức Chí-Tôn đã định luật
thương-yêu và quyền công-chánh tại mặt thế nầy, để cho những người nắm luật
cai-trị chúng dân, phải có lòng thương-yêu giáo-hóa chúng dân làm lành lánh dữ,
như vậy trong nước mới được thái-bình.
Còn người có quyền phải giữ
phép công-bình chánh-trực trong sự thưởng phạt phải cho được thông-minh (*1),
thì đời mới đặng lạc-nghiệp âu ca, chúng dân cọng hưởng huệ-ân hạnh-phúc.
Trái lại, người hành luật
thì giam hãm chúng sanh trong vòng thống khổ, kẻ cầm quyền lại hà khắc con dân
thảm sầu ta thán.
Vì cớ mới nảy sanh
phong-trào cách mạng, gây nên đời loạn-lạc chiến tranh, ấy là tại những người cầm-quyền,
hành luật không tùng thiên-lý, chẳng thuận nhơn tâm, nên mới có tai nạn đao
binh lan tràn khắp xứ.
Ngày nào luật thương-yêu
và quyền công-chánh được thật hành châu đáo, thì đời sẽ trở lại hòa-bình, phục
hồi Nghiêu thiên Thuấn nhựt. (Bài nầy Ðức Hộ-Pháp giảng)
(*1) Còn người có quyền phải
giữ phép công-bình chánh-trực trong sự thưởng phạt phải cho được công-minh
(?),... ...
BÀI SỐ 28
GIÁ-TRỊ CỦA CON NGƯỜI
Con người sanh ra tại thế
nầy, từ ngôi Thiên-tử xuống tới hàng thứ-dân, giá-trị của mỗi người được cao trọng,
hay là thấp hèn, là do nơi sở-hành của người đào tạo. Hễ làm việc có đạo-đức
nhơn nghĩa, biết giữ lẽ công-bình, trên thuận tùng thiên-lý, dưới được lòng
tín-nhiệm của chúng dân, thì giá-trị đặng tôn-nghiêm cao trọng.
Còn làm những điều gì mà hại
nhân ích-kỷ, độc ác gian tham lương-tâm tán tận, vụ lợi bỏ nghĩa, thì danh thể
giá-trị của con người thấp hèn đê tiện.
Ðời xưa vua Nghiêu, vua
Thuấn trị bình thiên-hạ là nhờ giữ chánh tâm, thiệt hành bác-ái, khoan-dung đại
độ, thưởng phạt phân minh, cố tạo hạnh-phúc cho dân cọng hưởng.
Nghiêu Thuấn không lập luật
hình, Võ Thang chẳng tạo khám đường ngục thất, đời vô vi nhi trị thiên-hạ
thái-bình do sở hành đạo-đức nghĩa nhơn, mà giá-trị của vua Nghiêu, vua Thuấn
sánh cùng Trời Ðất....
Còn vua Kiệt, vua Trụ cũng
thời làm vua trong một nước, vì bởi hành tàng bạo ngược sát hại trung lương,
làm cho nhân tâm ly tán, không kiêng luật Thiên-điều, cho nên thiên-hạ phê-bình
là hôn quân vô đạo, giá-trị thấp hèn cả chư-hầu đều khinh bỉ.
Luận qua các bậc văn thần
võ tướng đời xưa, tên tuổi vẫn còn nêu vào truyện sử, thì ai cũng được biết rõ:
Quan-Công Hầu, Nhạc-Phi, Bàng-Cử, Ðịch Vương-thân, Tiết Hiền-thần cùng các bậc
tiền-vãng trong nước Việt-Nam giá-trị cao thượng thế nào? Chẳng cần biện-bạch
mà người đời hoài-cảm ca tụng thương tiếc vô cùng.
Còn như Bàng-Hồng, Tôn-Tú,
Tần-Cối, Trương-Huờn giá-trị đê tiện ra sao, chẳng luận minh tả thì nhơn-sanh
cũng chán biết đủ điều.
Trong buổi hiện tại nầy,
những mày trung mặt nịnh đã biểu lộ trên sân khấu của đời. Người thì tận tâm
trung thành hy-sanh vì Tổ-quốc, kẻ thì gian xảo bán nước hại dân, trải qua thời
kỳ lệ-thuộc trên mười (*1) năm, người chánh kẻ tà, lành dữ trắng đen, Việt-sử
cũng còn ghi chép rõ, để cho đoàn hậu-tấn so-sánh điều hay lẽ phải mà làm
phương-châm tự lập thể thống giá-trị của mỗi người, cho đặng tiến-hóa lên cao thượng,
mới xứng đáng một kiếp sanh trong vũ-trụ.
Trong nền Ðại-Ðạo Tam-Kỳ
Phổ-Ðộ của Ðức Ngọc-Hoàng Thượng-Ðế, hoằng khai trong nước Việt-Nam, trải qua
trên bốn mươi năm, Chức-sắc hành đạo giá-trị Thánh-danh cao thấp, cũng do nơi mỗi
vị đào tạo, để lưu truyền cho đàn hậu-tấn khen hay chê.
(*1) Chúng tôi nghĩ là 80
năm thì đúng hơn.
BÀI SỐ 29
TRÍCH LỤC NHO-GIÁO
YẾU-ÐIỂM TRONG NGŨ-KINH
Ngũ-Kinh là: Kinh Thi,
Kinh Thơ, Kinh Diệc, Kinh Lễ, Kinh Xuân-Thu.
Mỗi một bộ kinh Ðức Thánh
dạy, cốt yếu trong một câu hay là một chữ, ta có thể do theo đó mà làm
phương-pháp thật hành, thì cũng như học suốt thông một bộ sách vậy.
1 - Kinh Thi cốt yếu có một
câu: "Thi, Tam bá thiên nhứt ngôn dĩ tế chi, viết tư vô tà". Nghĩa là
trong Kinh Thi có ba trăm bài, gồm lại một điều chủ tâm đừng suy nghĩ những sự
vạy tà sái quấy....
2 - Kinh Thơ có 58 thiên cốt
yếu là tại hai chữ chấp-trung, nghĩa là ta làm việc chi từ lúc khởi đầu cho đến
khi kết cuộc, phải giữ một mực thường, thỉ chung như nhứt chẳng vì sự khó khăn
mà thối chí ngã lòng, bán đồ nhi phế mọi việc làm cần phải giữ bậc trung-dung,
không thái quá mà cũng không bất cập, thì sớm muộn sẽ được thành công.
Ðức Khổng-Tử: "Ngô Ðạo
nhứt dĩ quán chi". Ðạo của ta từ đầu suốt đến đuôi chỉ có một là thuận
thiên-lý.
3 - Kinh Diệc có 348 hào cần
yếu là một chữ thời, thời là tùy thời mà thuận theo, hay là chống lại.... và do
theo thời thế biến đổi cho phù-hạp thiên-lý, cùng thuận nhân tâm.
4 - Kinh Lễ có 48 thiên chỉ
dùng ba chữ: "Vô Bất Kỉnh". Bởi lễ là chủ ư kỉnh, dầu ngồi trong nhà
kín hay là ở dưới hang sâu, lúc nào cũng xem như có các Ðấng Thiêng-Liêng ở
trên đầu, đã thấy rõ mọi sự hành-động của mỗi người lành hay dữ. Cho nên ta phải
thành kỉnh luôn luôn, ấy là người biết giữ Lễ.
Ðức Khổng-Tử nói: Lễ giả
thiên địa chi tự giả, nhạc giả thiên địa chi hòa giả. Lễ là trật-tự của Trời Ðất,
còn nhạc là sự điều hòa của Trời Ðất....
5 - Kinh Xuân-Thu chép việc
242 năm, tóm lại là: khuyến thiện, răn ác.
Ðức Khổng-Tử tác thành
Kinh Xuân-Thu biên chép việc đời hai trăm bốn mươi hai năm để lưu-truyền hậu thế.
Những điều lành sự dữ của
các nhà vua, cùng các bậc chư-hầu, khanh-tể, chỉ rõ hai điều: thưởng phạt, khen
chê.
"Nhứt tự chi bao vinh
ư hoa cổn,
Nhứt tự chi biếm nhục ư phủ
việt".
Một lời khen thì vinh hơn
cái áo hoa cổn của vua ban cho, còn một tiếng chê nhục hơn bị tội xử bằng rìu
búa.
Kinh Xuân-Thu, cốt-yếu là
để dạy đời, khen đời và chê đời.
Ðạo Cao-Ðài gọi là
Nho-Tông chuyển thế, thì cần phải thật hành theo giáo-lý của Ðức Khổng-Tử trong
Ngũ-Kinh. Nếu mỗi người mà giữ đặng các điều cần-thiết kể trên cho được vẹn
toàn, thì danh-thể giá-trị sẽ tiến lên cao thượng, để làm gương soi-sáng cho bước
đường của đàn hậu-tấn noi theo.
Ðạo Cao-Ðài hoằng khai từ
năm Bính-Dần cho đến ngày nay, trong hàng Chức-Sắc, Chức-việc và Ðạo-hữu nam nữ,
cũng có nhiều người trọn tâm trung thành với Hội-Thánh, dám chịu khổ-hạnh
hy-sinh vì Ðạo. Mà cũng có kẻ lợi dụng danh Ðạo, tạo gia-nghiệp riêng về phần
cá-nhân, bất tùng luật-pháp, phản loạn chơn-truyền, thất thệ nghịch Thầy phá Ðạo.
Hai lẽ chánh tà, trung nịnh,
vẫn còn chép ghi vào Sử-Ðạo để lưu-truyền thất ức dư niên. Cũng như bộ sách
Xuân-Thu của Ðức Khổng-Tử lưu-truyền từ cổ chí kim.
Thì những người đạo-đức
nhơn-nghĩa, chánh-trực công-bình, vì nước vì dân, vì Ðạo làm hữu-ích chung cho
nhơn-loại được hưởng nhờ, để làm gương cho đời hậu tấn, noi bước hành trình, và
tránh những thói mị tà gian tham xảo-trá đặng khỏi mang tại họa tội tình
hành-phạt vi xủ vạn niên.
Trong Kinh Xuân-Thu phân
biệt trắng đen, chánh tà, phước họa đều rõ lý, để cho con người chọn lựa mà thật
hành, làm thế nào cho được danh thơm tiếng tốt lưu truyền, vạn đại thiên-thu mới
xứng đáng một kiếp sanh hữu duyên gặp Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ.
BÀI SỐ 30
NHƠN-NGHĨA ÐẠO-ÐỨC
Thầy Mạnh-Tử yếu dụng hai
chữ nhơn-nghĩa không nói đến việc lợi, Ngài đi tới nước nào cũng giảng đạo-đức,
thuyết nhơn-nghĩa.
Ngài nói: Tiên nghĩa hậu lợi
là chánh, còn vụ lợi bỏ nghĩa ấy là mị tà.
"Nhơn, nhân chi an trạch dã,
Nghĩa, nhân chi chánh lộ dã".
Ðiều nhơn là cái nhà yên ổn của người ta
vậy, điều nghĩa là cái đường chánh đại quang-minh của người ta vậy.
"Khoáng an trạch nhi phất cư, xá chánh lộ nhi bất do ai tai".
Ðể không cái nhà yên ổn,
mà chẳng ở, bỏ cái đường chánh mà không noi theo, khá thương thay!
Hai chữ Nhơn-Nghĩa đại-ý:
Nhơn là từ-bi, bác-ái,
Nghĩa là công-bình,
chánh-trực.
Ngày nào nhơn-sanh hiệp nhứt
tâm thật hành nhơn-nghĩa cho được hoàn toàn, thì mới thấy tinh-vi hiệu quả.
ÐẠO-ÐỨC
Ðạo lẽ phải nhứt định, ấy
là một con đường cái người ta phải do theo đó mà đi, Ðạo giả đại lộ dã.
Ðức là làm theo lẽ phải mà
đặng vừa lòng thích ý tất cả mọi người.
Ðạo-đức là căn bản của con
người. Do theo sách Trung-Dung nói chữ Ðạo là: Thiên mạng chi vị tánh, suất
tánh chi vị đạo, tùng đạo chi vị giáo, đạo giả dã bất khả tu du lỵ giả, lỵ giả
phi đạo dã. Nghĩa là: Trời ban cho con người một cái tánh lành, đem sự lành thi
thố ra gọi là đạo, do theo đạo-lý mà dạy người, gọi là giáo-hóa nhơn-sanh.
Ðạo chẳng rời trong tâm
giây phút nào, nếu để cho đạo lìa xa lòng người, thì chẳng phải đạo mà cũng chẳng
nên người. Làm việc gì thuận thiên-lý là có đạo, còn trái với thiên-lý là phi đạo
dã.
Ðức là nguồn cội của con
người, có đức dày thì bền vững trường tồn, nếu thất đức thì chinh nghiêng xiêu
đổ. Ví như cây có rễ nhiều thì đứng vững chẳng sợ gió giông, còn cây không rễ
lúc bảo tố tự nhiên phải trốc gốc.
Lập đức là thi ân tế chúng
cứu độ sinh-linh, làm việc gì có lợi-ích chung cho nhân-quần xã-hội, thiên-hạ
được vui mừng là có đức. Còn làm việc chi lợi riêng cho mình, mà hại người,
sanh chúng bất bình kêu ca thán-oán, ấy là điều tổn đức bất nhơn vô đạo.
Ðạo-đức là sở hành của người
quân-tử, nếu không có chí quân-tử, thì chẳng thế nào vẹn toàn đạo-đức.
BÀI SỐ 31
ÐẠI-ÐẠO TAM-KỲ PHỔ-ÐỘ
ÐẠI-ÐẠO là nền Ðạo lớn Trời
khai kỳ thứ ba, phô bày chơn-lý độ rỗi nhơn-sanh khắp cả thế-giới.
Ðại-Ðạo là một con đường
"Thiên-Linh" để cho các phẩm chơn hồn nguyên-nhân hạ trần, do theo đó
mà phục hồi cựu-vị, và các bậc hóa-nhân cũng noi theo con đường ấy mà tiến lên
đạt thành địa-vị cao thấp là tùy nơi công-nghiệp.
Luận về thường thức, Ðại-Ðạo
là: "Ðại lộ giả nhân sở cọng do". Ðạo là con đường rộng lớn, để cho mỗi
người đều đi trên con đường ấy mà tiến-hóa lên cao thượng.
TAM-KỲ PHỔ-ÐỘ
Nhứt-Kỳ Phổ-Ðộ: Tý Hội Thượng-Nguơn
Khai Ðạo.
Nhị-Kỳ Phổ-Ðộ: Sửu Hội
Trung-Nguơn Khai Ðạo.
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ: Dần Hội Hạ-Nguơn
Khai Ðạo.
Ðạo Cao-Ðài hoằng-khai năm
Bính Dần 1926, gọi là Hạ-Nguơn tái tạo, phục hồi Thượng-cổ.
Nhứt-Kỳ và Nhị-Kỳ Phổ-Ðộ hồi
đời nào? Mà ngày nay Ðạo Cao-Ðài xưng rằng Tam-Kỳ Phổ-Ðộ?
* Nhứt-Kỳ Phổ-Ðộ từ đời
Bàn-Cổ, Văn-Tuyên Ðế-Quân lập Ðạo Thánh tại Trung-quốc. Qua đời Ngũ-Ðế Ðức
Thái-Thượng Ðạo-Tổ lập Tiên-giáo tại Trung-Nguyên.
Ðức Nhiên-Ðăng Cổ-Phật lập
Phật-Giáo cũng tại Trung-Nguyên.
* Trải qua tới Nhị-Kỳ Phổ-Ðộ,
Ðức Lão-Tử lập Tiên-giáo tại Trung-Hoa, giáng-sanh vào đời nhà Thương, vua Võ
Ðinh năm Dậu, ngày 15 tháng 2.
Ðức Thích-Ca lập Phật-Giáo
tại Ấn-Ðộ Tây Thiên-Trước, giáng sanh vào đời nhà Châu, vua Chiêu-Vương, năm thứ
24 tháng 4 ngày mồng 8.
Ðức Khổng-Phu-Tử lập
Nho-Giáo tại Trung-Huê, giáng sanh vào đời nhà Châu, vua Linh-Vương, năm Kỷ-Dậu,
ngày 15 tháng 9.
Còn Gia-Tô Giáo-Chủ cũng mở
Ðạo Thánh bên Thái-Tây, ấy là Nhị-Kỳ Phổ-Ðộ. Cũng lậpTam-giáo Nho, Thích, Ðạo dạy
nhơn-sanh làm phải làm lành tu tâm dưỡng tánh.
* Nay đến buổi Hạ-Nguơn hầu
mãn, Ðức CHÍ-TÔN dùng huyền diệu cơ-bút khai Ðạo Cao-Ðài, chuyển Tam-Giáo qui
nguyên, Ngũ-Chi phục nhứt cho theo lẽ tuần-huờn của Tạo-hóa, gọi là Tam-Kỳ Phổ-Ðộ.
Ðức CHÍ-TÔN tuyển chọn 3 vị Phật, Tiên, Thánh thay mặt cho Tam-giáo, cầm quyền
Tam-Trấn Oai-Nghiêm:
Thường cư Nam-hải Quan-Âm
Như-Lai.
Lý Ðại Tiên-Trưởng kiêm
Giáo-Tông Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ.
Hiệp-Thiên Ðại-Ðế
Quan-Thánh Ðế-Quân.
Bởi ba Ðấng Phật, Tiên,
Thánh trong thời-kỳ cận đại mà toàn thể nhơn-sanh đều rõ biết hạnh-đức từ-bi quảng
đại Linh-Quan Thế-Âm Bồ-Tát cứu khổ cứu nạn. Ðức Lý Ðại-Tiên cầm quyền thưởng
phạt phân minh, thừa hành mạng lịnh Ðức CHÍ-TÔN xây cơ chuyển thế.
Ðức Quan-Thánh Ðế-Quân,
trung cang nghĩa khí, chánh-trực công-bình, Ngài chú trọng bộ Xuân-Thu nối chí
của Ðức Văn-Tuyên Khổng-Thánh.
Ba vị kể trên tài đức hoàn
toàn, đủ phương-diện độ đời đáng roi gương cho thiện nam tín nữ.
Ðức CHÍ-TÔN hoằng-khai Ðại-Ðạo
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, là một nền Tôn-giáo trong kỳ thứ ba, phổ truyền chánh-pháp độ tận
92 ức nguyên-nhân phục hồi cựu-vị, và cứu vớt chúng sanh thoát khỏi chốn trầm
luân khổ hải, lập đời minh-đức tân-dân chỉ ư chí-thiện.
TÔN-CHỈ ÐẠO CAO-ÐÀI
Là qui Tam-giáo, hiệp
Ngũ-Chi.
Tam-giáo là: Nho, Thích, Ðạo.
Ngũ-chi là: Nhơn-Ðạo, Thần-Ðạo,
Thánh-Ðạo, Tiên-Ðạo, Phật-Ðạo.
BÀI SỐ 32
ÐỨC-TIN
Ðức-tin con người chia ra
làm ba phương-diện:
1-Tự-tín, 2- Tha-tín, 3-
Thiên-tín.
* Tự-tín là: mình tin nơi
sở-hành và năng-lực của mình có thể bảo-đảm cái đời sống cùng giá-trị của mình
được vững bền trường-cửu.
Con người từ ấu thơ cho đến
trưởng thành những lời của cha mẹ dạy bảo công việc làm ăn, cho tới sự ở đời
giao-thiệp với nhơn-quần xã-hội thì việc nào phải, trái nên hư, lợi, hại cha mẹ
đều chỉ vẽ phân-minh. Ta do theo đó mà làm bài học vỡ lòng, và ghi nhớ lời
giáo-hóa của cha mẹ để làm căn bản.
Ngoài ra sở-hành của ta
làm những điều gì có đạo-đức nhơn nghĩa, mà được thiên-hạ ngợi khen và thương
yêu kính mến thì ta noi theo đó mà làm phương-pháp thực hành. Còn điều nào của
ta làm mà quần chúng cười chê, khinh bỉ, thì ta phải chừa bỏ ra liền, được như
vậy thì đủ đức-tin rằng: sở hành của ta sẽ bảo tồn. Giá-trị của ta được cao trọng,
ấy là tự-tín.
* Tha-tín là: tin nơi người
khác, trước là tin ông thầy dạy ta học, những kinh sách của Thánh-Hiền lưu lại
ta noi theo đó mà lập thân cho nên người hiền-lương đạo-đức. Lại nữa ta phải
Quang tiền dũ hậu là vẻ-vang được sự-nghiệp người xưa dành để cho đời sau đầy-đủ
trong xã-hội, chẳng phải họ cố ý dạy ta. Nhưng ta suy-xét công việc của họ làm
những điều gì có nghĩa có nhơn được nhiều phước đức, thiên-hạ hoài cảm ca tụng
hoan-nghinh, thì ta học theo các điều ấy mà làm. Còn họ làm việc chi hại nhơn
ích kỷ bất nghĩa vô lương phạm tội với luật đời, sanh chúng nghịch thù oán
ghét, thì ta truất bỏ các điều tình tệ ấy ra không nạp dụng, làm người mà biết
suy độ như thế, gọi là có kiến-thức ấy là tha-tín.
Tự-tín và tha-tín chưa đủ,
cần phải có thiên-tín, thì mọi sự mới được hoàn-toàn.
* Thiên-tín là: trọn tin
nơi Trời là một Ðấng CHÍ-TÔN chủ-tể Càn-khôn Thế-giới, có đủ quyền linh mầu-nhiệm
bảo hộ sanh mạng của nhơn-loại trong vũ-trụ, những người biết thuận tùng
thiên-lý thì hằng còn.
Trời cầm luật công-bình
lành thưởng dữ răn. Còn người có đủ đức-tin nơi Trời, thì đọc hai câu trong bài
Ngọc-Hoàng Kinh rõ biết:
Càn-kiện cao-minh vạn-loại
thiện ác tất kiến,
Huyền phạm quảng đại nhứt
toán họa phước lập phân.
Nho-giáo có câu: Thiên
võng khôi khôi sơ nhi bất lậu. Lưới Trời lồng-lộng thưa mà chằng lọt. Những người
được hiểu quyền linh của Trời thì không bao giờ dám làm một điều gì trái với
nhơn-tâm.... Mọi hành-vi phải thuận tùng Thiên-lý, noi theo đức háo sanh là từ-bi
bác-ái chánh-trực công-bình, dụng đạo-đức nhơn-nghĩa mà làm phương-châm thực
hành, thì Trời ban cho ân-huệ được vẹn toàn hạnh-phúc.
Hoàng thiện bất thân duy đức
thị phụ. Ngày nào chư đạo-hữu và tất cả nhơn-sanh, làm y theo ba phương diện: tự-tín,
tha-tín, và thiên-tín cho đặng châu đáo thì con người sẽ trở nên chí-thiện, đời
phục hồi trật-tự an-ninh, nhơn-loại chung hưởng hồng-phước của Trời ban cho,
trong thế-giới sẽ được thái-bình trường cửu.
BÀI SỐ 33
BỔN-PHẬN TÍN-ÐỒ
Bổn phận ngưòi tín-đồ
trong nền Ðạo, phải có đủ đức-tin và trọn tâm trung thành với Ðạo. Mọi việc
hành-vi phải đồ y theo khuôn viên luật-pháp của các Ðấng Thiêng-Liêng và Hội-Thánh
truyền dạy, chẳng nên canh cải chơn-lý của Ðạo, cần phải giữ lời minh-thệ khi mới
nhập-môn, trước sau như một không đổi dạ thay lòng, tin theo giáo-lý mà thật
hành, chẳng vì khổ-hạnh mà thối chí ngã lòng nửa đường bỏ Ðạo.
Ví như một người học trò
vào trường thì phải tín-nhiệm và cung kỉnh vâng lời của vị giáo-sư chỉ dạy.
Chuyên lo học tập cần mẫn, thức khuya dậy sớm, nấu sử xôi kinh trải qua mười
năm công-phu cực nhọc, mới có thể thi đậu cấp bằng tốt nghiệp ra làm việc giúp
ích cho nước nhà lập nên danh phận hiển Tổ vinh Tông.
Còn những người nhập-môn
theo Ðạo Cao-Ðài, thì gọi tín-đồ, tức là môn-đệ của Ðức CHÍ-TÔN, phải giữ tâm
thành đức vẹn, nhứt là tuân theo Thánh-giáo, và luật-pháp Chơn-truyền của Ðạo
mà thi-hành cho tròn bổn-phận. Ngoài ra còn phải siêng năng lập công-quả cho đầy-đủ
và học hỏi cho được lảu thông kinh sám, thì mới có thể tiến-hóa lên vào hàng Chức-việc
cùng Chức-Sắc.
Trái lại kẻ học sanh vào
trường mà không tuân theo lời dạy của thầy thì dầu học kể cho nhiều năm cũng
không thế thi đậu cấp-bằng cao đẳng. Người nhập-môn vào hàng tín-đồ của
Tôn-giáo mà chẳng thiệt hành theo khuôn viên của Ðạo thì tu đến trọn đời cũng
khó mong đắc Ðạo. Ngày nào toàn thể chư môn-đệ của Ðức CHÍ-TÔN mà cố tâm thực-hành
cho được vuông tròn bổn phận hai chữ tín-đồ thì nền Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ sẽ tiến
triển cao siêu vô đối.
Khuyên giữ cho tròn phận
tín-đồ,
Ðêm ngày khá niệm chữ
Nam-Mô.
Trước sau như một không dời
đổi,
Giữa biển chờ khi gặp
Lão-Tô.
BÀI SỐ 34
GIẢNG-ÐÀI TÒA-THÁNH
Chức-Sắc Thiên-phong Thuyết
Ðạo trên giảng đài Tòa-Thánh, trải qua mười lăm năm giải thích đủ các đề-tài
nào là đạo-đức nhơn nghĩa, từ-bi, bác-ái, chánh-trực, công-bình, thương-yêu,
liên-lạc, thuận-hòa, khiêm-cung, nhẫn-nại, vân vân.
Kể ra phương châm giáo-hóa
cũng đầy-đủ lắm rồi. Nhưng tiếc vì chư đạo-hữu thật hành chưa được châu đáo
theo các đề-mục kể trên.
Hôm nay xin ôn lại hai điều
cần:
Một là: Ngôn cố hành.
Hai là: Hành cố ngôn.
Lời nói phải đoái lại việc
làm, mà việc làm cho đúng lời nói.
Ví-dụ: nói tôi là người
tu, thì phải làm thế nào cho ra vẻ người hiền-lương đạo-đức, ngôn từ hòa-nhã, hạnh-kiểm
trang hoàng, đủ tư-cách là người ở trong nền Tôn-giáo, mới xứng đáng gương mẫu
cho đàn hậu tấn noi theo.
Nếu nói rằng: tôi là người
tu, mà còn tranh danh vụ lợi xu-hướng theo thói thường tình, không chừa bỏ tánh
tham, sân, si, cử chỉ thắc-mắc, khó-khăn thiếu lòng bác-ái công-bình thì trái
ngược với bổn phận của người tu, ấy là việc làm không y theo lời nói, thì tự
nhiên mất cả uy-tín làm cho người đời khinh bỉ cười chê.
Nên giữ lời nói với việc
làm phải phù hạp cùng nhau, mới có đủ tư-cách làm người cao thượng.
Hiện nay có một ít người
cũng tự xưng là tín-đồ trong Ðạo Cao-Ðài, mà sở-hành chẳng noi theo Thánh-giáo
của Ðức CHÍ-TÔN, không giữ theo luật-pháp chơn-truyền của Ðại-Ðạo, ấy là nói một
đường mà làm một ngã, không nhớ khi quì trước Thiên-Bàn lập thệ rằng: Hiệp đồng
chư môn-đệ, gìn luật-lệ Cao-Ðài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Ðịa lục.
Chư Ðạo-hữu nên ôn lại sở-hành
của mình có giữ theo luật-lệ của Ðạo hay không? Xin ghi nhớ đại-cương trong
Tân-Luật dạy: những người nhập-môn phải ăn chay mỗi tháng sáu ngày là bực chót.
Còn lễ sóc vọng mỗi tháng
hai kỳ ngoại trừ khi có bận việc hoặc là đau ốm thì được chế giảm như thế chẳng
phải khó-khăn gì mà làm không đặng.
Nếu chẳng thật-hành cho trọn
lời minh-thệ, thì tức nhiên là kẻ giả dối với Ðức CHÍ-TÔN, kết cuộc phải chịu
luật Thiên-điều trừng-trị, chừng ấy dầu có ăn-năn hối-hận thì đã muộn rồi, đáng
tiếc cho một kiếp sanh làm người hữu duyên ngộ Ðạo, mà không được chung hưởng
ân huệ của Trời Phật ban cho, là tại bởi sở-hành chẳng y theo lời nói.
Tóm lại: Chư Ðạo-hữu bất
luận làm những việc gì cần phải suy-xét, coi có y theo Chánh-giáo của CHÍ-TÔN
và luật-pháp chơn-truyền của Ðạo hay không, nếu nhận thấy sở-hành của mình còn
sai suyển, thì nên sửa cải liền, đừng để cho người chỉ trích mà phải chạm lòng
tự-ái, có khi nảy sanh câu chuyện không hay.
Nhứt là lời nói đối với việc
làm phải tương-liên mật thiết cùng nhau thì mọi sự được thành công kết quả khỏi
mang câu: Năng thuyết bất năng hành./.
CHUNG
GIẢNG ĐẠO CHƠN NGÔN
Soạn giả THÁI ĐẾN THANH
Ấn hành năm Tân Hợi 1971
In tại nhà in LÊ THÀNH - LONG HOA TÂY NINH
Chủ
nhân NGUYỄN THỊ Ý
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét